<?xml version='1.0' encoding='UTF-8'?><?xml-stylesheet href="http://www.blogger.com/styles/atom.css" type="text/css"?><feed xmlns='http://www.w3.org/2005/Atom' xmlns:openSearch='http://a9.com/-/spec/opensearchrss/1.0/' xmlns:georss='http://www.georss.org/georss' xmlns:gd='http://schemas.google.com/g/2005' xmlns:thr='http://purl.org/syndication/thread/1.0'><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583</id><updated>2011-07-31T00:36:08.399-07:00</updated><category term='nguyễn văn hóa -bàn về quan điểm sử của Seth Jacob'/><category term='Về cảm nghĩ về bài phỏng vấn Võ Văn Ái của web gio-o'/><title type='text'>Hóa' s Blog</title><subtitle type='html'></subtitle><link rel='http://schemas.google.com/g/2005#feed' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/posts/default'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default?max-results=100'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/'/><link rel='hub' href='http://pubsubhubbub.appspot.com/'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><generator version='7.00' uri='http://www.blogger.com'>Blogger</generator><openSearch:totalResults>17</openSearch:totalResults><openSearch:startIndex>1</openSearch:startIndex><openSearch:itemsPerPage>100</openSearch:itemsPerPage><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-1607699334582632058</id><published>2010-02-15T22:45:00.000-08:00</published><updated>2010-02-16T09:26:44.382-08:00</updated><title type='text'>Mấy Suy Nghĩ Rời Trong Đêm Giao Thừa Năm Dần (2010)</title><content type='html'>nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;1. Nạn “Hoàng họa” (Yellow Peril)&lt;br /&gt;&lt;/b&gt; &lt;br /&gt;Một thời gian ngắn sau khi chế độ miền Nam sụp đổ, cố học giả Nguyễn Hiến Lê cho ra đời thêm vài cuốn sách mới, không những có giá trị thực chất về nội dung mà ông còn có ý hướng bồi đắp cho thế hệ hậu sinh qua vài dịch thuật những kiến thức cần thiết về văn minh Trung Hoa, Ấn Độ, phối nhịp với chức năng phát triển kinh tế, xã hội. Xin kể ra: Khổng Tử, Sử Trung Quốc, Lịch Sử Văn Minh Ấn Độ, Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa… Một cuốn sách khác, đáng kể thêm: &lt;i&gt;Những Vấn Đề Của Thời Đại &lt;/i&gt;(NVĐ-CTĐ), là một tiểu luận về các vấn nạn tồn đọng của phát triển kinh tế toàn cầu. Cuốn sau này, vì xuất bản quá cận kề ngày 30/4/1975 nên, tôi tin một số lượng nhỏ sách chưa được phân phối đến được tay người đọc. Hẳn là vô tình, nhưng cuốn NVĐ-CTĐ tôi xem như là một tác phẩm song song với Những Vấn Đề Triết Học Hiện Đại (NVĐ-THHĐ) của cố Giáo sư Lê Tôn Nghiêm, bổ túc cho nhau về các lý thuyết, tư tưởng và các vấn đề thực dụng đang hiện lưu trên thế giới –cũng là đóng góp tư duy cần cho các chương trình phát triển kinh tế-xã hội. NVĐ-THHĐ là cuốn sách hay và quá cần thiết cho sinh viên mọi ngành.  Tôi còn nhớ có hai chương nói về Cơ Cấu Luận (Structuralism) và Triết học chính trị-xã hội của Max Weber, trình bày thật hay. NVĐ-THHĐ có trong tủ sách gia đình của tôi, nhưng ở ngoài chợ trời sách trên các vỉa hè Sài Gòn lúc còn trong nước (5, 6 năm sau 30.4.75), tôi không thấy. Ở nước ngoài trong hai thập niên qua, có lẽ không có ai biết để mang theo, nên không hề thấy sách được in lại ? Tôi mong cuốn sách này, nhờ qua phương tiện “chôm chĩa” nào đó, một số sách đã được tiếp thu ra miền Bắc VN…chứ nếu để bị lửa cách mạng hoặc các gánh bán ‘ve chai’ tiêu hủy hết thì tiếc lắm. Xin được chấp vài vái đến hương linh của hai cụ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đặc biệt, trong các dịch tác về “lịch sử văn minh” của thế giới, học giả Nguyễn Hiến Lê chọn dịch William J. Durant, thay vì Arnold Toynbee có lẽ vì công trình của Durant đồ sộ, lớn lao, công phu hơn. Ở trong nước, kể từ khi cán bộ Việt Cộng thay đổi cách ăn mặc –từ bỏ đôi dép râu, chiếc áo tay cụt bỏ ngoài quần bằng đôi dày soulier, thắt cà-vạt với gi-lê áo vét, là lúc những cuốn sách đã xuất bản ở miền Nam được “cóp” và in lại, khá nhiều. Tôi không tin hiện tượng này là do chính sách của Bộ Văn hóa-Thông tin, Bộ Giáo dục đào tạo mà vì yếu tính của kinh tế thị trường. Những cuốn sách của các tác giả ở miền Nam bán chạy, vì có nhiều độc giả ưa chuộng (kể cả các độc giả xuất thân từ xã hội cộng sản miền Bắc hay đang trưởng thành sống một gian đoạn với cộng sản ở miền Nam), nên lời nhiều. Có lời nhiều thì sách được in ra với số lượng lớn, tái bản nhiều lần. Từ đó, nảy sinh ra hiện tượng “đạo văn, đạo nhạc, đạo tranh”..đang phổ biến ở Việt Nam. Cũng có thể có cả hiện tượng “đạo sách” nữa, như họ dùng một cuốn sách (dù không có giá trị gì ) nhưng dễ tạo ra các thị hiếu nhất thời như các chuyện tình, kích dục… rồi xáo trộn các phần giữa, phần đầu, viết lại phần kết luận và thay đổi tựa đề sách. Xong rồi đem bản đánh máy đi chạy chọt, hối lộ, “đi lễ” với các cấp quan quyền kiểm duyệt, cho in sách, phát hành… và ngồi chờ chia lời. Một cuốn sách mà tác giả được chia vài chục triệu đồng (vài ngàn đô Mỹ) là có thể sống được nửa năm, một năm, ai lại không muốn làm trong một xã hội nhố nhăng, bịp bợm như xã hội Việt Nam hiện nay!?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong dịch tác &lt;i&gt;Lịch Sử Văn Minh Trung Hoa &lt;/i&gt;(LSVMTH) của William Durant (sách này đã được Nhà xb Văn hóa-Thông tin của Việt Cộng in lại),  có cả phần ghi chú của học giả Nguyễn Hiến Lê. Trong chương III, &lt;i&gt;Bắt Đầu Một Trật Tự Mới&lt;/i&gt;, tác giả Durant nhận xét rằng nhờ vào hình thức hôn nhân cổ ở Trung Hoa đã tàn lụi, nhiều thanh niên đã tự chọn bạn trăm năm. Chế độ đa thê đã suy, trai gái được tự do và chung đụng trong các trường Đại học. Nhất là từ giai đoạn chế độ cộng sản Mao Trạch Đông, quyền phụ nữ đã ngang hàng với nam giới. Phụ nữ đã biết cai đẻ, ngừa thai. “&lt;i&gt;Họ không còn giết con khi không muốn nuôi nữa, và họ bắt đầu hạn chế sinh dục. Từ khi có cách mạng đến nay, dân số không tăng lên mấy; có thể nó đã bắt đầu giảm nữa&lt;/i&gt;.”  (trang 345…đến 346, sách đã dẫn). Ở đoạn này, Nguyễn Hiến Lê đã ghi chú như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“&lt;i&gt;Châu Âu đỡ lo một phần nào về “&lt;b&gt;hoàng họa&lt;/b&gt;” (họa người da vàng) vì các tiệm thuốc Trung Hoa quảng cáo mạnh các phương pháp và thuốc ngừa thai&lt;/i&gt;. [&lt;i&gt;Dân số Trung Hoa chưa bắt đầu giảm đâu; hiện nay người ta tính rằng họ đã có non 800 triệu dân, và trước cuối thế kỷ này sẽ có trên một tỉ&lt;/i&gt;.]”   (trang 346, sđd).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếc là William Durant bắt đầu viết tập LSVMTH hơi sớm (bắt đầu Đệ Nhị Thế Chiến) và hoàn tất vào giai đoạn mở đầu cuộc Cách mạng Văn hóa của Mao, nên có nhận xét về nạn nhân mãn Trung Hoa lục địa không được đầy đủ. Thiếu sót đầu tiên là bởi, Trung Cộng trong giai đoạn ‘cách mạng văn hóa’ đang là một xã hội đóng kín, đâu có phổ biến con số thống kê chính xác ra bên ngoài. Khi viết “Từ khi có cách mạng văn hóa đến nay, dân số không tăng lên mấy; có thể nó bắt đầu giảm nữa” là cách nói ức đoán thôi. Thứ đến, có lẽ xuất phát từ những thông tin tình báo của phương Tây, người ta ước lượng cộng sản Tàu đã giết hại hàng triệu người dưới thời Mao, và với chính sách hạn chế sinh đẻ khắc nghiệt của Đảng Cộng sản, dù cho có tiêu hủy bớt vài chục triệu sinh mạng trong vòng hai thập niên thì cũng chưa phải là “giảm”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày nay, Internet là nguồn phương tiện mênh mông và cập nhật thường xuyên, nên vấn đề dân số của Trung Quốc đã được công bố rõ ràng. Theo vài nhà nghiên cứu độc lập, thí dụ : nhà địa dư học Matt Rosenberg trong: The Handy Geography Answer Book and The Geography Bee Complete Preparation Handbook giữa năm 2008, dân số Trung Quốc trên 1.3 tỉ người (1,330,044,605 as of mid-2008), chiếm 1/5 dân số toàn cầu (6.7 tỉ); con số với thời gian gần nhất theo tài liệu thư viện online của CIA, dân số Trung Quốc vào tháng 7/2009 gần 1.4 tỉ ( 1,338,612,968 ). Một nhà địa dư học khác, A. A. Bennet nêu ra một thắc mắc là kể từ khi Mao Trạch Đông thắng Quốc Dân Đảng và cộng sản cầm quyền trong vòng 45 năm với chính sách tàn sát đối lập và dân chúng cộng với chính sách hạn chế sinh đẻ (như chính sách một-con [one-child policy]) và các nạn đói ăn xảy ra liên miên thế mà dân số lại tăng gấp đôi (1950 Dân số  = 550 Triệu, 1996 Dân số = 1.2 Tỉ) là nghĩa làm sao? Vậy thì, dưới một chế độ cộng sản, độc tài chưa hẳn là có hiệu quả trong việc ngăn chận nạn nhân mãn?. Cho nên, theo bản tin của Tân Hoa Xã vào ngày 21/7/2009 tuyên bố mạnh mẽ rằng đến năm 2030, khi dân số Trung Quốc tăng lên đỉnh điểm 1.465 tỉ người thì mức phát triển dân số sẽ là zéro, thật khó mà tin được. (Tian Xueyuan, former president of the Institute of Population and Labor Economics under the Chinese Academy of Social Sciences (CASS), said at an economic and social development forum: "Zero growth could be realized when the country's population hit the peak of 1.465 billion by 2030," ).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Yellow Peril” (Pháp ngữ: Le Péril Jaune), học giả Nguyễn Hiến Lê dịch là “Hoàng họa” nghe hợp lý, thay vì nói “họa Da Vàng” (dù cả hai nhóm từ đồng nghĩa). “Hoàng họa” làm cho ta liên tưởng ngay là “họa người Tàu”, chủng tộc Tàu. Nói “họa Da Vàng” tức là bao trùm hết cả vùng Á Châu mà đứng ở vị trí địa lý của người Âu, thì Á Châu là vùng Viễn Đông (Far East) bao gồm: Đông Á (East Asia) và Đông Nam Á (South-East Asia).  Đông Á gồm các quốc gia : Trung Hoa lục địa, Mông Cổ (Mongolia), Hong Kong, Nhật, Macau, Bắc Hàn, Nam Hàn, Đài Loan với tổng diện tích : 11,839,074 cây số vuông; Đông Nam Á bao gồm : Brunei, Cambodia, Indonesia, Laos, Malaysia, Myanmar, Papua New Guinea, Philippines, Singapore, Thailand, Timor-Leste, và Vietnam với tổng diện tích : 5,000,000 cây số vuông.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tổng cộng &lt;/b&gt;: [ Diện tích (Đông Á + Đông Nam Á) = 12% so với Diện tích đất của các quốc gia trên thế giới cộng lại (không kể biển) &gt; 16,839,074 cây số vuông/ 148,940,500 cây số vuông]; [ Dân số (Đông Á + Đông Nam Á) = 32.1% so với Dân số toàn cầu &gt; 2,148,784,500/ 6,692,030,277 (năm 2008) ].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vậy, với diện tích = 12%, nhưng dân số chiếm 1/3  (32.1%) so với toàn cầu là con số thiếu cân đối trong vấn đề phát triển. Chúng ta cũng nên lưu ý, vùng Trung Đông (Middle East) không được kể là Á Châu, vì họ được xếp là Dân Da Nâu (Brown Race); trong khi đó, về dân số và diện tích của Trung Quốc so với Đông Á + Đông Nam Á là ¾  ( 75% ) . Cho nên, khi người ta nói “Hoàng họa” là ám chỉ trực tiếp đến chủng tộc Tàu là điều hợp lý thôi.&lt;br /&gt;Ở cộng đồng người Việt nước ngoài, giáo sư Cao Huy Thuần là người đầu tiên xướng xuất về viễn tượng “Hoàng họa” qua bài tham luận “Trung Quốc: Một Dấu Hỏi” được đọc tại Hội thảo về Phát triển khu vực chấu Á Thái Bình Dương và tranh chấp Biển Đông vào ngày 15/16.8.1998 tại New York City.  Khi “dấu hỏi” về một cường quốc đang lên (a rising power) là Trung Quốc, thì đó phải là một dấu hỏi lớn. Qua bài tham luận của Cao Huy Thuần không ai có thể phủ nhận “cường quốc đang lên ấy” là một hiểm họa, dù ông không hề đề cập trực tiếp về nạn “Hoàng họa” –một vấn đề còn phức tạp rối rắm nhiều hơn là sức mạnh kinh tế và vũ khí nữa. Công bố cái “dấu hỏi về Trung Quốc”, Gs Cao Huy Thuần không chỉ nêu bật vai trò một nhà chiến lược (strategist), ông còn muốn đề cập về nó trên “cương vị Việt Nam” –đó là thái độ của một kẻ sĩ thời đại, của ‘một người yêu nước mình’ trước tình huống “vị thế răng môi” Trung Quốc-Việt Nam.  (Có người nói Gs Cao Huy Thuần là một người “thân cộng” là một kiểu tư duy dại dột, chỉ làm cho cộng sản vênh váo hơn lên thôi…) Từ đó, ông đối chiếu tới hai khả thể khách quan có thể cứu lấy Việt Nam : một là thế ‘balancer’ cán cân lực lượng của Mỹ trước “sự bắt tay của Trung Quốc-Nhật (hoặc “ưu thắng của nước này trên nước kia”); hai là, Việt Nam cần có tầm chiến lược để bảo vệ mình như Đài Loan đã tự bảo vệ họ trong tư thế một ‘quốc gia độc lập’, khác với Trung Quốc -bằng  một hệ thống chính trị dân chủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tự ví mình “như là một trí thức trói gà không chặt”, ông Cao Huy Thuần không dám mơ ước gì hơn là dùng “văn hóa như là chiến lược”, tức là phải tách bạch sự khác biệt giữa văn hóa “da vàng Tàu” và “da vàng Việt”. Qua thực tế lịch sử, thì sự dị biệt ấy rất sâu xa, dù khi các cụ của ta nói “Tam giáo đồng quy” đi nữa, nội dung và sự kết nạp “tam giáo” giữa hai nước cũng không hề tương đồng. Đó là lý do tại sao nước ta trong một ngàn năm bị Tàu đô hộ, vẫn không hề bị đồng hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở Mỹ, sau Đệ Nhất Thế Chiến bốn năm (1922), Lothrop Stoddard qua &lt;i&gt;Cơn Triều Đang Lên Của Dân Da Mầu Đối Kháng Với Quyền-Chủ-tể Của Dân Da Trắng &lt;/i&gt;(The Rising Tide of Color Against White World-Supremacy) đã không hề thấy “xấu hổ” về dư luận (có thể có) chỉ trích ông kỳ thị chủng tộc, đã dùng nguyên một chương để nói về nạn “Hoàng họa”. Ông nói thẳng “Hoàng họa” chính là anh Tàu Trung Quốc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong Chương II, &lt;i&gt;Vùng Đất Của Người Da Vàng &lt;/i&gt;(Yellow Man’s Land), Stoddard viết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Chủng tộc tập trung của thế giới da vàng luôn luôn là Trung Hoa. Từ buổi bình minh của lịch sử, chủng loại to lớn này là trung tâm văn minh phát tỏa khắp vùng Viễn Đông. Qua “Vương Quốc Đứng Giữa”, những thân tộc chung quanh học đòi một kiểu là dân Nhật và Hàn Quốc ở phía đông; Thái, Anam-mít (Việt Nam) và Căm-bốt ở phía nam; phía bắc thì có dân Mông-cổ và Mãn-chu. Đối với những giống người này, Trung Hoa là một ông thầy giáo oai vệ, đôi khi còn trừng phạt (chúng) về sự tự phụ, nếu chưa được luôn thấm nhuần các nguyên tắc văn minh trật tự của họ. Tuy vậy, vẫn có một vài phát triển riêng lẻ những giống dân Viễn Đông khác nhau, họ đều xuất phát từ cái nền của Trung Hoa. Dù cho một Nhật Bản hiện đại thức dậy trong thoáng chốc làm chủ tể chính trị của Viễn Đông, không được quên rằng Trung Quốc vẫn duy trì không những về văn hóa mà còn là đất đai và chủng tộc trung tâm của thế giới da vàng. 4 phần 5 chủng tộc da vàng tập trung ở Trung Hoa, gần 400 triệu người Tàu so với 60 triệu người Nhật, 16 triệu người Hàn, 26 triệu người Đông Dương, và có thể là 10 triệu dân không phải gốc Tàu quanh vùng biên giới của Trung Hoa.” (The Rising Tide of Color Against White World-Supremacy, by Lothtrop Stoddard).  [lưu ý: con số thống kê vào năm 1922! ] (*)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quả đúng như Gs Thuần đã viết, khi người Âu (dù ở level trí thức nào) đề cập tới người Tàu và Việt họ đều đánh đồng hai giống dân này chỉ là một. Tàu là Việt mà Việt cũng là Tàu. Họ không hiểu được sự dị biệt về chủng tộc, văn hóa, cá tinh, tâm lý, tập quán giữa người Tàu và người Việt.  Nhân vật mà tôi đề cập ở trên –Lothrop Stoddard là một sử gia, đậu tiến sĩ Sử học ở Harvard vào đầu thế kỷ 20, cũng không nhìn khác. Có điều vì là một người có kiến thức rộng nên, Stoddard thấy rõ là dân Nhật đã học hỏi kỹ thuật, khoa học của người da trắng để trở thành một quốc gia da vàng hiện đại, đánh ngã Nga da trắng (1904) , chiếm ngự Tàu da vàng (1894) , nhưng ông biết rằng những chiến thắng thoáng chốc đó không thể làm cho Nhật trở thành trung tâm “họa da vàng”, mà cái họa sớm hay muộn sẽ đến từ Trung Quốc. Mặt khác, một số dân tộc tính của người Nhật (giống như người da trắng) không có khả năng chịu đựng nóng nhiệt đới, lại không có khả năng thích ứng với cái lạnh vùng Nam-Bắc cực. Khi chiếm đóng Formosa (Đài Loan) –dù không phải là vùng nhiệt đới, Nhật vẫn không thành tựu được vai trò thực dân nữa là. Trong khi da vàng Tàu, dù cho có di cư đến vùng Siberia họ vẫn có khả năng thích ứng và chinh phục thiên nhiên khắc nghiệt như thường.  Vì sao vậy? Stoddard trích lại nhận xét của Doctor Wu-Ting-Fang: “Kinh nghiệm đã xác nhận rằng người Tàu là những người lao động ở khắp mọi nơi dễ dàng vượt xa mọi đối tác. Họ là những người siêng năng, thông minh và kỷ luật. Họ có thể làm việc dưới những điều kiện có thể chết người với một chủng tộc kém sức chịu đựng hơn; trong một cái nóng như rồng phun lửa, trong cái lạnh chỉ dành cho loài gấu bắc cực, cố sức chịu đựng suốt hàng giờ dài làm việc cực nhọc chỉ để đổi lấy vài bát cơm ăn.”   (**)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau Đệ Nhị Thế Chiến, người Nhật đã thấy được rằng họ không có quyền lợi sống còn ở các vùng nhiệt đới châu Á cũng như Trung Quốc; trái lại, Trung Quốc âm thầm bành trướng thực dân bằng con đường mậu dịch và di dân. Đối với Trung Quốc, những nguồn lợi thiên nhiên ngoài Á châu là Mỹ, Úc, một phần Châu Mỹ Latinh ở bờ biển phía Tây. Nhưng những vùng đất này đã được xác lập bởi người da trắng; do đó Tàu chỉ có thể phá vỡ các rào cản này bằng sức mạnh thôi.  Đó là điều không tưởng, nên trước sau, Trung Quốc vẫn chỉ nhắm vào các nước da vàng của Á châu, từng bước làm chủ-tể thống lĩnh về mọi lãnh vực.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Điều tưởng chỉ là viễn tượng nói trên, nay đã thành thực trạng. Từng bước hiển lộ, Trung Quốc đang tìm cách khuất phục ý chí của Đảng Cộng Sản VN, bắt đầu từ các nhân vật trong Bộ Chính Trị. Trung Quốc có nhiều khả năng thành công, ngoại trừ một nước Việt Nam được dân chủ hóa chính trị cấp thời để nhận sự hậu thuẫn của Tây Phương (như Đài Loan hiện nay) mà giáo sư Cao Huy Thuần mơ ước. Trong khi đó, giả thiết về một hiện tượng  mặc cảm tâm lý tự ti (lẫn tự tôn) yếu kém với người da trắng, có thể có một số người Việt (bao nhiêu phần trăm ?) sẽ hùa theo sức mạnh quân sự và vũ khí đang lên của Trung Quốc –thỏa hiệp bằng tinh thần muốn thấy một châu Á da vàng hùng cường đương cự lại với sức mạnh da trắng trong tương lai. Một hình thức “Đại Đông Á” của thế kỷ 21. Sự kiện này nếu có thể xảy ra, đích thực là một đại họa không riêng cho nước Việt Nam, các quốc gia “da vàng” dị biệt với Trung Quốc về văn hóa và ngôn ngữ, mà còn cho cả thế giới vào giữa thế kỷ này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(còn tiếp)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;Giao thừa 13.02.2010&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vài chú thích:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(*)  “The ethnic focus of the yellow world has always been China. Since the dawn of history this immense human ganglion has been the centre from which civilization has radiated  throughout the Far East. About this "Middle Kingdom," as it sapiently styled itself, the other yellow folk were disposed-Japanese and Koreans to the east; Siamese, Annamites, and Cambodians to the south; and to the north the nomad Mongols and Manchus. To all these peoples China was the august preceptor , sometimes chastising their presumption, yet always instilling the principles of its ordered civilization. However diverse may have been the individual developments of the various Far Eastern peoples, they spring from a common Chinese foundation. Despite modern Japan's meteoric rise to political mastery of the Far East, it must not be forgotten that China remains not only the cultural but also the territorial and racial centre of the yellow world. Four-fifths of the yellow race is concentrated in China, there being nearly 400,000,000 Chinese as against 60,000,000 Japanese, 16,000,000 Koreans, 26,000,000 Indo-Chinese, and perhaps 10,000,000 people of non-Chinese stocks included within China's political frontiers.” &lt;br /&gt;(by Lothrop Stoddard, A.M., Ph.D PART I - The Rising Tide of Color CHAPTER II YELLOW MAN'S LAND New York 1922)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(**)  "Experience proves that the Chinese as all-round laborers can easily outdistance all competitors. They are industrious, intelligent, and orderly. They can work under conditions that would kill a man of less hardy race; in heat that would kill a salamander, or in cold that would please a polar bear, sustaining their energies, through long hours of unremitting toil with only a few bowls of rice." (Sách dẫn như trên, Quoted by Alleyne Ireland, "Commercial Aspects of the Yellow Peril," North American Review, September, 1900.)&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-1607699334582632058?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/1607699334582632058/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=1607699334582632058' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/1607699334582632058'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/1607699334582632058'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/02/may-suy-nghi-roi-trong-em-giao-thua-nam.html' title='Mấy Suy Nghĩ Rời Trong Đêm Giao Thừa Năm Dần (2010)'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-7262244805299584482</id><published>2010-02-10T14:12:00.000-08:00</published><updated>2010-02-10T20:08:56.262-08:00</updated><title type='text'>Huế, tình yêu và nỗi buồn (Việt Hoàng)</title><content type='html'>Tết Canh Dần sắp đến, đọc bài “Huế, tình yêu và nỗi buồn” làm tôi rất buồn!&lt;br /&gt;Bởi, cha tôi là người Huế và mẹ tôi cũng là người Huế. Nỗi buồn ngun ngút đầu tiên là nhớ lại vào tháng 7/2008, sau khi biết tôi đã bị “chơi khăm” về việc đứng tên chủ quyền căn nhà ở thành phố Hồ Chí Minh, thì bất ngờ nhận được cú phôn của chị TKL từ Đức gọi về. Tôi không hề cho chị ấy số phôn nhà, nhưng chị hỏi thăm ai đó, và gọi cho tôi. Lâu lắm rồi, tôi không liên lạc với chị TKL –nhưng, vài tuần lễ trước tháng 7 lúc ở nhà anh chị Cao Hữu Điền ở đường Hàng Me, thành phố Huế thì tôi nghe được tin Họa sĩ Thái Bá, anh của chị bị trọng bệnh và đang hấp hối. Tôi xin chị TKL được đến thăm anh ấy, nhưng chị từ chối lấy lý do anh ấy quá mệt và không muốn tiếp ai hết trong lúc này. Mấy ngày sau, tôi trở lại Sài Gòn, rồi trở về Mỹ mới nghe tin họa sĩ T.B. đã ra đi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vì cú phôn bất ngờ của chị TKL, nên tôi cũng có phần xúc động, nhất là trong lúc lòng đang bối rối liệu nên trở về Mỹ hay ra Huế kiếm một miếng đất nào ngoài đó, xây một cái nhà nhỏ rồi để sống và chết luôn ở đó. Hôm ấy, chị TKL hỏi tôi rất nhiều điều, nhất là về ông HVG. Biết gì tôi nói đó, nhận xét về ông ấy ra sao tôi nói vậy… Điều bất ngờ là chị TKL nói một câu trong điện thoại mà tôi tưởng chừng như đang vứt tai vứt tóc mình “Ui chao, Huế mình sao hiền quá đi. Quá hiền đi lận.”  Nghe chị ấy nói mà tưởng chừng như chị đang thét lên, “Trời hại Huế của tôi rồi!” Rồi chị tiếp, “Thôi H. về lại Mỹ đi. KL từ Việt Nam trở lại Đức mà tưởng như trở lại thiên đường…” Câu nói ấy có tác động vào tôi trong nhiều góc cạnh của tình thế, nhất là làm cho cán cân quyết định trở về Mỹ của tôi nặng thêm lên. Có lẽ chị TKL không hiểu hết, nắm hết một nội tâm phức tạp của tôi trong lúc ấy.  Có nhiều ước vọng và những điều tôi muốn làm, nhưng chẳng có phương tiện nào nằm trong bàn tay mình. Tôi không tiếc nuối của cải vật chất, kể cả việc bán đổ bán tháo căn nhà vô nghĩa kia và chấp nhận cho Chi Cục Thuế quận Tân Bình móc túi thêm 3 ngàn đô-la. Gần một trăm ngàn đô tiền Mỹ chưa làm được gì hết, muốn đem mẹ mình về để chết trên quê hương cũng không xong, giờ vơi còn một nửa. Tôi dự định trích một số tiền còn lại này mua một xe gạo chở về làng An Truyền (Huế) phân phát cho những người nghèo ở đó, nhưng lòng cứ bần thần nghĩ tới gặp lại cái hình ảnh bi thương ‘ngoài nớ’ như một người đạp xe ba gác còn trẻ, lưng còng xuống và xiêu vẹo về một phía do sức nặng những món hàng chất đầy phía trước, tôi thấy hành động phân phối vài chục, vài trăm tạ gạo…cho dân nghèo thật sự chỉ là nghĩa cử để lấy “tiếng thơm” riêng mình chứ chẳng giải quyết được việc gì. Tôi nản lòng. Thanh niên Huế thời “hiện đại” (có thể kể luôn cả thời “hậu hiện đại” trong tương lai nào đó) là hình ảnh của những người gầy guộc, đen đúa, hốc hác… chạy ăn từng ngày. Một thành phố “bất lực”, một xã hội “bất động” như những cây phượng già trong Đại Nội… chưa nói tới sự già nua, ngu muội, bẩn thĩu, hèn kém của những đầu óc đã bị thời đại loại bỏ đàng sau cả thế kỷ nhưng vẫn còn những cái nhếch mép gượng gạo, giả dối, giả tạo của niềm kiêu hãnh…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng hôm nay, nhân bài viết của Việt Hoàng (có phải ông là một người gốc Huế? Sao mà thâm trầm, chân phương với sự thật đến dường ấy? Hay ông là một kẻ sĩ Bắc hà đất Thăng Long tội nghiệp cho những tấm “thân em gầy guộc nhỏ”?) làm cho tôi càng rã rời thêm nữa… nỗi buồn ngun ngút càng sâu nặng hơn. Những ngày còn chế độ Ngô Đình Diệm… thanh niên Huế luyện tập thể dục thể thao, võ nghệ với vóc dáng cường tráng đã lụi tàn theo từng hố chôn trong cát. Những trường trung học, đại học, những thư viện nhà, thư viện công, những cơ ngơi thí nghiệm y khoa, khoa học… ai xây dựng nên và ai đã thụ hưởng… mà giờ đây xem chừng cô vắng, lạnh lẽo như những bàn đá lạnh để xác người chết trong bệnh viện trung ương Huế…?  Có thể những dòng văn của Việt Hoàng là một tiếng sấm sét thức giấc những kẻ u mê, hèn kém, nhưng cũng có thể đó là một điệu chiêu hồn cho một thành phố sẽ bị lịch sử vùi lấp, chôn đứng…như thành Đồ Bàn của người Chăm trong quá khứ thôi!&lt;br /&gt;Đàng nào đi nữa, tôi vẫn phải cám ơn tác giả Việt Hoàng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;Wednesday, February 10, 2010&lt;br /&gt;____________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;b&gt;Tản mạn đầu Xuân &lt;br /&gt;Huế, tình yêu và nỗi buồn &lt;/b&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Việt Hoàng &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“…&lt;i&gt;Để Huế bớt vua thì dân chủ và minh bạch phải đặt lên hàng đầu và phải có sự giám sát của chính quyền trung ương&lt;/i&gt;…”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huế, mảnh đất cố đô từng là trung tâm văn hoá-kinh tế-chính trị của Việt Nam một thời. Huế được biết đến nhiều qua thơ văn, qua những câu hò buồn man mác trên dòng sông Hương thơ mộng. Huế, một thắng cảnh du lịch luôn được nhắc đến trên các tạp chí du lịch và là điểm đến không thể thiếu được của khách muôn phương. Huế cũng là mảnh đất mà ai đến đó rồi đều không khỏi "bùi ngùi" khi xa nơi "nét dịu dàng pha lẫn chút trầm tư". Huế cũng là miền đất của lăng tẩm đền đài, của chùa chiền và phong cảnh hữu tình nên thơ. Huế cũng nổi tiếng bởi những cô gái xinh đẹp "tóc thề bay trong gió" mà "học trò trong Quảng ra thi, thấy cô gái Huế chân đi không đành…".&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huế đẹp, Huế thơ và Huế chỉ còn là… trong mộng. Huế là hành trang buồn cho những người con xứ Huế quyết tâm ra đi lập nghiệp nơi xứ người. Với họ, Huế tuy xa mà gần tuy gần mà xa. Huế là nơi để khi đi xa "mà thương, mà nhớ" hơn là để sống và gắn bó với nó. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huế chìm lắng trong cuộc sống bề bộn hàng ngày và mấy hôm nay bỗng nhiên được nhắc đến "rộng rãi" trên các phương tiện thông tin đại chúng từ báo chí lề phải cho đến lề trái.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tất cả được bắt đầu nhờ sự "xuất hiện" của ông bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên-Huế, Hồ Xuân Mãn. Người vừa được tuyên dương tại "Hội nghị điển hình tiên tiến của cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh". Ông có mấy câu phát biểu rất "thẳng và thật" như "lương của đảng viên chúng ta hiện nay cũng là từ tiền thuế của người dân", "nguy cơ của một Đảng cầm quyền là xa dân. Một khi Đảng cầm quyền đã xa dân, khi Đảng đã mất gốc thì Đảng sẽ không thể tồn tại". Ông hình như cũng là "nhân vật chính" trong bài "Đất cố đô có vua" đăng trên báo Lao Động cách đây 5 năm [1]. Những "thành tích" của ông Hồ Xuân Mãn đã gặp sự "phản biện" của ông Hà Văn Thịnh, giảng viên trường Đại học Huế, với bài viết "Xin hỏi ông Bí thư Tỉnh uỷ" [2].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hy vọng rằng sự tranh luận giữa hai ông sẽ được tiếp tục. Tuy nhiên không phải bây giờ khi ông Hà Văn Thịnh nói ra thì mọi người mới biết, mới rõ về Huế. Ngoài những lăng tẩm, đền đài mà ông cha để lại, Huế còn được biết đến như là một trong những vùng nghèo và kém phát triển nhất nước. Huế cũng như hầu hết các thành phố miền Trung, có khí hậu rất khắc nghiệt. Mùa Hè nắng như đổ lửa, mùa Đông thì lạnh và mưa nhiều. Mưa của Huế kéo dài lê thê cả tuần, cả tháng. Mưa Huế "thối cả đất, trắng cả trời". Mưa Huế theo người dân đi vào trong cả giấc mơ. Việc sống chung với hạn hán, lũ lụt, gió bão đã trở thành chuyện thường ngày của người dân xứ Huế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có lẽ do ảnh hưởng của thiên nhiên và di sản văn hoá thời phong kiến để lại nên con người của Huế mang nhiều tính cách "xưa" như gia trưởng, bảo thủ, an phận, đủng đỉnh, nói nhiều làm ít, thanh niên không có chí tiến thủ… Rất không may cho Huế là không chỉ người dân thường có những tính cách "cũ xưa" đó mà ngay cả lãnh đạo và chính quyền Huế cũng bị nhiễm nặng tính cách đặc trưng "rất Huế" đó. Ai cũng phải thừa nhận một điều là Huế rất ít thay đổi. 10 năm, 20 năm nay Huế vẫn thế: vẫn buồn, vẫn thơ mộng và vẫn nghèo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính quyền Huế không cần đi đâu xa mà chỉ cần vượt qua đèo Hải Vân vào Đà Nẵng là biết được cần phải học, phải làm những gì. Đà Nẵng đã vượt xa Huế để trở thành một trung tâm kinh tế của Miền Trung. Cả thành phố Đà Nẵng là một công trường sôi động, dẫn đầu khu vực về thu hút đầu tư nước ngoài và các doanh nghiệp trong nước. Các khu resort (nghỉ mát) ven biển Mỹ Khê, gần khách sạn Furama được rao bán từ vài trăm ngàn đến hàng vài triệu đôla mỗi cái, đủ biết đầu tư ở Đà nẵng lớn đến đâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huế có điểm mạnh gì để có thể phát triển? Tiềm năng của Huế lớn hay nhỏ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huế có nhiều điểm mạnh, tiềm năng có thể phát triển được là:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Du lịch. Đây là nguồn thu nhập chủ yếu cho chính quyền và nhân dân Huế, tuy nhiên đầu tư của chính quyền vào cơ sở hạ tầng du lịch còn rất kém và thiếu đồng bộ. Ngoài danh lam thắng cảnh "tự có", những địa điểm nghỉ ngơi, ăn chơi, giải trí của khách du lịch còn rất thiếu, nếu không muốn nói còn rất yếu. Buổi tối, nhất là mùa đông, sau 9 giờ tối du khách đến Huế không biết đi đâu và làm gì. Con người Huế thì hiền lành, thật thà nhưng chưa cởi mở và năng động, nhiệt tình trong việc phục vụ khách du lịch chưa được thể hiện đúng mức. Dịch vụ về du lịch Huế thua xa Đà Nẵng, Nha Trang hay Bình Thuận. Câu hỏi đặt ra là chính quyền Huế có quyết tâm phát triển Huế hay không, nghĩa là có thật sự cởi mở và tạo điều kiện để du lịch Huế phát triển hay chưa?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giáo dục. Huế với trường Quốc Học nổi tiếng và hệ thống các trường Đại học lâu đời, như Đại học Y, Đại học Sư phạm, Đại học Tổng hợp… sẽ là điểm hẹn của sinh viên, các bậc phụ huynh cũng yên tâm vì Huế có rất ít tội phạm và tệ nạn xã hội. Vật giá ở Huế cũng rất rẻ so với các nơi khác, dân Huế rất hiếu học, cám dỗ của xã hội ít. Tuy nhiên để ngành giáo dục Huế phát triển thì tự thân các trường phải thay đổi tư duy giáo dục, mạnh dạn áp dụng các phương pháp mới để các sinh viên tốt nghiệp ở Huế có đầy đủ năng lực và năng động đáp ứng được những đòi hỏi ngày càng khắt khe của xã hội. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Y tế. Dẫn đầu bởi bệnh viên trung ương Huế với một đội ngũ bác sĩ có chuyên môn cao, lại có trường Đại học Y hỗ trợ, cộng với chi phí rẻ, dịch vụ y tế tại Huế có nhiều tiềm năng để phát triển mạnh. Tuy nhiên Huế rất cần sự hỗ trợ của nhà nước vì mức sống của dân chúng miền Trung nói chung và Huế nói riêng còn rất thấp, do đó chi phí khám và chữa bệnh không thể áp dụng cao như tại các nơi khác. Cần khuyến khích những trung tâm nghiên cứu y học Việt Nam và quốc tế đặt ở Huế vì khí hậu nóng và ẩm ướt tại miền Trung rất thuận lợi cho việc thử nghiệm các loại vi khuẩn và các loại bệnh lạ nhiệt đới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thể dục thể thao. Huế chưa thực sự đầu tư cho thể dục thể thao một cách cần thiết. Huế hầu như vắng bóng trên các sân chơi thể thao trong nước, các khu thể thao hiện đại vẫn chưa thấy xuất hiện. Ngoài việc nâng cao thể lực cho người dân, các khu thể thao còn phục vụ cho khách du lịch, cho sinh viên và học sinh trên địa bàn Huế. Khu vực bờ biển Lăng Cô là địa bàn lý tưởng để khai thác dịch vụ thể thao biển cả, qua đó phát triển du lịch.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghiên cứu khoa học, sáng tác nghệ thuật. Sự yên bình của Huế (và Đà Lạt) rất thuận lợi cho việc nghiên cứu khoa học, và sáng tác văn học nghệ thuật. Sống bên cạnh một khung cảnh hữu tình, tâm hồn người Huế rất phóng đãng và qua đó có thể sáng tác những tác phẩm hay và có giá trị văn hoá và nghệ thuật cao. Rất tiếc, tạp chí Sông Hương một thời nổi tiếng không còn được nhắc đến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có phát triển được những tiềm năng vừa kể trên hay không, cái đó còn phụ thuộc rất nhiều vào sự năng động và cởi mở của chính quyền và dân chúng địa phương. Nếu người dân Huế vốn đã bảo thủ và ngại thay đổi thì chính quyền và lãnh đạo tỉnh phải làm gương đi trước và ủng hộ mạnh mẽ ý kiến và sáng kiến của những người tiên phong. Phải tạo điều kiện thực sự cho những doanh nhân và doanh nghiệp vào Huế đầu tư để phát triển thành phố thay vì tổ chức những festival, họp báo và kêu gọi khơi khơi trên báo chí và truyền hình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Huế có một tiềm năng rất lớn về con người, đặc biệt là những người con xứ Huế đi xa lập nghiệp nơi đất khách quê người. Rất nhiều người con của Huế đã thành công lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Chưa nói đến cộng đồng người Huế ở nước ngoài, chỉ riêng dân Huế ở Sài Gòn và Hà Nội thôi cũng đã là một lực lượng rất lớn. Làm sao để họ quay về và đầu tư vào Huế không phải là bài toán quá khó nếu chính quyền Huế thật sự cởi mở và thực lòng muốn xây dựng Huế tốt hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự nỗ lực của ông chủ tịch tỉnh Thừa Thiên-Huế, Nguyễn Ngọc Thiện, một người từng du học ở nước cộng hòa Ukraina (Liên Xô cũ) trong nỗ lực kêu gọi đầu tư về Huế rất đáng ghi nhận. Thế nhưng việc đầu tiên mà ông Nguyễn Ngọc Thiện cần làm là phải có những chủ trương, chính sách và sự đồng thuận trong chính quyền trước đã, tránh tình trạng "ông nói gà bà nói vịt", gây khó dễ cho các nhà đầu tư vào Huế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính quyền ở trung ương cũng phải dành những quan tâm và ưu tiên nhất định cho Huế, tránh tình trạng bỏ rơi và quên lãng Huế như hiện nay. Thật là vô lý và bất công khi có những công trình và dự án ở Huế mà các doanh nghiệp và người dân Huế không được tham gia, lý do là vì các dự án đó đã "được" các công ty ở Hà Nội "thắng thầu" và sau đó các công ty thắng thầu đó đem quân của họ vào thi công, ví dụ công trình thuỷ điện Bình Điền.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tình trạng bè phái trong nội bộ đảng và chính quyền các cấp, các ban ngành ở Huế chắc chắn là rất lớn và tỉ lệ nghịch với sự nghèo khổ của dân Huế. Vì Huế là đất Cố Đô nên ai cũng muốn "làm vua". Để Huế bớt vua thì dân chủ và minh bạch phải đặt lên hàng đầu và phải có sự giám sát của chính quyền trung ương.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đây lại là một bài toán khó cho đến nay vẫn chưa có lời giải. Nỗi "xấu hổ vì mình là người Huế" mà ông Hà Văn Thịnh, giảng viên sử học trường Đại học Huế, nói ra chắc sẽ còn kéo dài. &lt;br /&gt;Việt Hoàng&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên)&lt;br /&gt;&lt;b&gt;XIN HỎI ÔNG BÍ THƯ TỈNH UỶ&lt;br /&gt;&lt;/b&gt;HÀ VĂN THỊNH&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau phát biểu của bí thư tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế Hồ Xuân Mãn về những thành tích của địa phương được đăng tải trên một số tờ báo, một nhà Sử học muốn ông Mãn nói rõ hơn, cụ thể hơn về những thành tích đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Để rộng đường dư luận cũng là tôn trọng tính đa chiều của truyền thông, Tuần Việt Nam đăng ý kiến thể hiện quan điểm riêng của ông Hà Văn Thịnh, giảng viên trường Đại học Huế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong mục “Chào buổi sáng” của báo Thanh Niên, số ra ngày 25.1.2010, có đăng tải những phát biểu của Bí thư Tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế Hồ Xuân Mãn. Ông Mãn cho rằng đầu nhiệm kỳ, người nghèo ở tỉnh TTH là 28%, nay còn 8%; tỉnh đã lo cho 31.000 đồng bào dân tộc có nhà “4 cứng” và; nhất là tỉnh TTH luôn “nói đi đôi với làm”. Nếu đúng như thế thì thật là diệu tuyệt. Nhưng vì là một nhà sử học, nói cái gì cũng phải có sách, mách có chứng nên tôi muốn ông Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh TTH cho biết rõ – cụ thể hơn những thành tích rất đáng trân trọng ấy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Nếu TTH đã giảm được trên 70% số hộ nghèo chỉ trong một nhiệm kỳ lãnh đạo thì đó là một kỷ lục, không chỉ đối với Việt Nam mà là cả thế giới! Đây là thành tích cần phải được nhân rộng cho 62 tỉnh, thành khác học tập. Và, tôi cho rằng nếu bỏ qua điều này là một sự lãng phí tài năng ghê gớm. Vấn đề là ở chỗ dư luận muốn biết bằng cách nào, kinh phí lấy từ nguồn nào, các công đoạn của nó được tiến hành ra sao; bởi vì trên thực tế, không thấy tỉnh TTH có những đổi thay đột biến để tạo nên đột biến ghê gớm trên? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Chỉ cần ngồi ở một quán cóc trên đường Lê Hồng Phong – trung tâm thành phố, khoảng một giờ đồng hồ, bất kỳ ai cũng được “tiếp xúc” với 10-15 người ăn xin, bán vé số. Họ có phải là người nghèo hay không? Tại sao TTH có tỷ lệ ăn xin và bán vé số cao nhất nước trong khi người nghèo đã giảm nhanh đến như thế? Xin nhấn mạnh rằng cũng trong chừng ấy thời gian vào buổi chiều tối, sẽ “bị” không ít hơn 10 đứa trẻ chèo kéo mua đậu phụng rang, bánh phồng tôm. Những đứa trẻ đó chỉ khoảng 8-11 tuổi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Tiêu chuẩn “nghèo” mà ông Bí thư Tỉnh uỷ “xếp hạng” là dựa trên căn cứ nào? Theo các công trình nghiên cứu của Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn trường Đại học Khoa học Huế thì tỉnh TTH là một trong những địa phương có tỷ lệ người nghèo cao nhất nước. Xin nhớ rằng nếu thu nhập bình quân dưới 1.000 USD/người/năm, thì vẫn thuộc dạng nghèo; còn dưới 500 USD thì chắc chắn là thuộc diện đói nghèo. Cũng xin nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn nghèo mà tỉnh TTH đang cố tính là theo Thông tư số 170/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 8.7.2005, trong đó quy định rằng mức nghèo là dưới 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành phố. Cách tính đó đã lạc hậu vì ai cũng biết chẳng một ai (kể cả trẻ con) có thể sống nổi ở một thành phố với thu nhập nửa USD/ngày (!) Đó là chưa muốn nói rằng số liệu mà ông Bí thư Tỉnh uỷ đã đưa ra là không chính xác (tuy vẫn theo cách tính để lấy thành tích của ông). Số liệu của Sở Lao động – Thương binh – Xã hội TTH cho biết năm 2009, TTH có 21.168 hộ nghèo với 75.945 nhân khẩu, chiếm 8,85% (ông Bí thư đã bớt đi 0,85%). Thế nhưng số người “cận nghèo” (một cách nói để giảm thiểu sự sút giảm của thành tích. Trên thực tế là chẳng khác gì nhau. Nghèo và không nghèo chứ không thể có chuyện “cận nghèo”), là 5,75%. Cộng lại, TTH, tuy tính toán khác rất xa với thực tế, vẫn có 14,6% người rất nghèo. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Các dân tộc ít người ở tỉnh TTH có gần 50.000 người. Ông Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Xuân Mãn cho rằng “tỉnh đã lo cho 31.000 đồng bào dân tộc có nhà “bốn cứng” là chính xác hay không? Được biết, nhà của đồng bào được xây dựng theo Đề án 135 của Chính phủ và kinh phí để thực hiện là do nguồn từ Nhà nước và các cơ quan hợp tác quốc tế. Tại sao tỉnh TTH có thể nói là chính họ đã lo cho đồng bào? Mặt khác, 40% còn lại vẫn chưa có nhà “bốn cứng” là nghĩa làm sao khi chỉ có 8% người nghèo? Đó là chưa nói chuyện xây nhà xong nhưng trong đó chẳng có gì, thu nhập của người dân không thay đổi gì thì quả thật, chỉ mới đem cái áo khoác lên cho người nghèo bớt xấu một chút mà thôi! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;5. Người viết bài này đã sống và làm việc ở tỉnh TTH 33 năm, đã chứng kiến sự thay đổi của nhiều lãnh đạo nhưng chưa hề thấy bất kỳ sự thay đổi thực sự nào từ ý tưởng, cách làm việc của những người lãnh đạo ấy. Tôi sẵn sàng tranh luận với bất kỳ vị lãnh đạo nào về đề tài này. Chỉ cần bước qua đèo Hải Vân là thấy xấu hổ vì mình là người Huế. Sự đủng đỉnh của Huế, tính bảo thủ muôn đời của nó là điều ai cũng biết. Thật là buồn khi mình gắn bó với một quê hương mà quê hương ấy chỉ thay đổi gọi là, phát triển gọi là… Là người dân, rất ước mong rằng các vị lãnh đạo hãy nói được sau khi đã làm được. Xin ông Bí thư Tỉnh uỷ tỉnh TTH trả lời những câu hỏi của tôi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguồn: tuanvietnam.net&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;© Thông Luận 2010&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-7262244805299584482?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/7262244805299584482/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=7262244805299584482' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7262244805299584482'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7262244805299584482'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/02/hue-tinh-yeu-va-noi-buon-viet-hoang.html' title='Huế, tình yêu và nỗi buồn (Việt Hoàng)'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-4042479428838968133</id><published>2010-01-30T21:02:00.000-08:00</published><updated>2010-01-30T21:02:24.852-08:00</updated><title type='text'>Hóa' s Blog: Mặt thật của “nhà phê bình” Đặng Tiến!</title><content type='html'>&lt;a href="http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/mat-that-cua-nha-phe-binh-ang-tien.html"&gt;Hóa&amp;#39; s Blog: Mặt thật của “nhà phê bình” Đặng Tiến!&lt;/a&gt;&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-4042479428838968133?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='related' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/mat-that-cua-nha-phe-binh-ang-tien.html' title='Hóa&apos; s Blog: Mặt thật của “nhà phê bình” Đặng Tiến!'/><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/4042479428838968133/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=4042479428838968133' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/4042479428838968133'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/4042479428838968133'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/hoa-s-blog-mat-that-cua-nha-phe-binh.html' title='Hóa&apos; s Blog: Mặt thật của “nhà phê bình” Đặng Tiến!'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-7564472892651571614</id><published>2010-01-30T21:00:00.000-08:00</published><updated>2010-01-30T21:03:59.646-08:00</updated><title type='text'>Mặt thật của “nhà phê bình” Đặng Tiến!</title><content type='html'>Sau khi đọc 3 bài viết về ông Đặng Tiến, tôi xin nghiêng mình cám ơn bác Trần Văn Tích, hai ông/anh Vương Thế Lan và Huỳnh Văn Nhơn, đồng thời phải cám ơn các ý kiến bình luận hổ trợ cho ba cây bút nói trên.&lt;br /&gt;Ôi những “tên tuổi” cách mạng của Hồ Chí Minh gốc Nam Ngãi, chúng ta cần phải biết “sợ hãi” họ!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Văn Hóa&lt;br /&gt;Chủ nhật 30/01/2010&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Mấy bài viết làm bộc lộ cái mặt thật của “nhà phê bình” Đặng Tiến!!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Xin mời quý độc giả cùng đọc ba bài link theo sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Vương Thế Lan: Đặng Tiến và nỗi băn khoăn: làm sao cho khỏi bị đào thải  [đối thoại, tienve.org]  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://damau.org/archives/10620&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Huỳnh Văn Nhơn: Khi trí thức táng tận lương tâm  [đối thoại, tienve.org]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=9733 &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Trần Văn Tích: Trường hợp Đặng Tiến – Nam Chi:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=9748&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-7564472892651571614?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='enclosure' type='' href='http://damau.org/archives/10620' length='0'/><link rel='enclosure' type='' href='http://tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=9733' length='0'/><link rel='enclosure' type='' href='http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=9748' length='0'/><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/7564472892651571614/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=7564472892651571614' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7564472892651571614'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7564472892651571614'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/mat-that-cua-nha-phe-binh-ang-tien.html' title='Mặt thật của “nhà phê bình” Đặng Tiến!'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-8906327163947265936</id><published>2010-01-26T15:05:00.000-08:00</published><updated>2010-01-26T15:05:59.789-08:00</updated><title type='text'>Nhân Tết Canh Dần (2010) tưởng niệm đồng bào Huế bị thảm sát trong Tết Mậu Thân (1968)</title><content type='html'>Tết Mậu Thân 1968, VC Tàn Sát Ðồng Bào Vô Tội Tại Huế&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                                  MƯỜNG GIANG&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Cuối tháng 12-1960, Hồ Chí Minh thành lập tại Hà Nội cái gọi là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), dùng làm bình phong lừa bịp thế giới về âm mưu cưởng chiếm VNCH bằng quân sự. Ðể hoàn thành giấc mộng nhuộm đỏ toàn cõi VN, Hà Nội bắt các cán binh, bộ đội gốc Miền Nam đã tập kết ra Bắc năm 1954 phải hồi kết , qua đường mòn Trường Sơn. Số này sẽ kết hợp với các cán binh nằm vùng năm xưa và một nhóm trí thức khoa bảng đang bất mãn chính phủ Ngô Ðình Diệm. Tất cả sẽ dấy lên một phong trào tranh đấu giả tạo, để lật đổ chính quyền hợp pháp của Miền Nam bằng kế hoạch ba mặt giáp công. Ðó là chính trị, binh vận và quân sự của Miền Bắc.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Cuộc binh biến ngày 1-11-1963 với kết quả đưa VNCH vào tình trạng vô chính phủ và gây nên những xáo trộn chính trị triền miên suốt những năm 1964-1967. Nắm lấy thời cơ vàng ròng, mà Hồ Chí Minh cho là đã chín mùi tại Miền Nam, nên đầu năm 1964, đảng ra lệnh tập trung các cán bộ Y tế, Giáo dục, Văn hóa Thể dục Thể thao, Nhà văn, Nhà báo, Nông nghiệp, Bưu điện, Tiếp vận... khắp đất Bắc để học tập, huấn luyện, lên đường vào Nam tiếp tay với bọn Việt gian bản địa, dấy lên phong trào cướp chính quyền ở Huế, Ðà Nẵng, Sài Gòn và nhiều thành phố khác. Ðợt đó có 300 người bị tập trung tại Trường Huấn Luyện Ðặc Biệt ở Phú Thọ, mang tên là Ðoàn K-33.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Ngày 22-12-1964 lớp học bế mạc, tất cả các học viên đều lên đường vào Nam. Trong số cán bộ trên, hiện còn nhiều người sống sót và được đảng thưởng công rất hậu như Nguyễn Trung Hậu (Bí thư tỉnh ủy Thuận Hải), Trần Ngọc Trác (Chủ tịch tỉnh Thuận Hải), Ngô Triều Sơn (Q.Bí thư tỉnh ủy Bình Thuận), Nguyễn Tường Thuật (Chủ tịch tỉnh Phú Yên)... Ngoài ra còn có các nhạc sĩ, nhà văn như Phan Huỳnh Ðiểu, Thuận Yến, Lê Anh Xuân, Tô Nhuận Vỹ, Dược sĩ Nguyễn Kim Hùng, Tiến sĩ Võ Quảng, Nguyễn Thới Nhậm, Nguyễn Khoa Ðiềm..&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Lâu nay nhiều người thắc mắc về sự liên hệ giữa Nguyễn Khoa Ðiềm và Hoàng Phủ Ngọc Tường. Thậm chí không ít người quả quyết cả hai chỉ là một. Nhưng dù là một hay hai thì chúng vẫn là những ác nhân thiên cổ (trong đó có Nguyễn Ðắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan..) đã tàn nhẫn dã man mất hết nhân tính khi ra lệnh chôn sống, đập đầu và tùng xẻo hàng ngàn đồng bào vô tội tại Huế vào những ngày Tết Mậu Thân (1968).&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Giống như những người Nhật còn sống sót khi đã hứng hai trái bom nguyên tử của Mỹ năm 1945. Hiện có một số lớn nạn nhân may mắn sau thảm kịch Tết Mậu Thân Huế 1968, đã quả quyết thủ phạm chính cuộc tàn sát dã man lúc đó là những thành phần trong mặt trận Liên Minh Dân Tộc Hòa Giải do Hà Nội dựng lên tại Huế vào ngày mồng ba tết (1-2-1968) gồm Lê văn Hảo, Hoàng phủ ngọc Tường, Hoàng phủ Ngọc Phan, Nguyễn Ðắc Xuân, Nguyễn Ðoá, Ðào thị Xuân Yến, Hoàng phương Thảo.. Tất cả bọn nam nữ ác quỹ lúc đó đều thuộc thành phần thượng lưu trí thức, ăn trên ngồi trước, gì gì cũng thừa mứa.. chỉ thiếu có máu và xác người, nên phải giết đồng bào vô tội để cùng vui bữa tiệc thịt người.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Bia đá trăm năm có thể bị hũy diệt bởi con người và thời gian, lịch sử cũng vậy có thể bị thay đen đổi trắng bởi bọn cầm quyền và đám bồi bút vô loại nhưng bia miệng thì không bao giờ bất biến bởi chúng là những tác phẩm vô hình không chữ nghĩa. Ngoài ra còn có luật trời và tòa án lương tâm, nhất là đối với những người có lòng tin tôn giáo ‘ Quả Báo Nhản Tiền’  . Nên nay có mặc áo vàng, áo đỏ, áo lam , áo đen hay ở trần đóng khố thì rốt cục cuối đời cũng phải mặc áo quan để về với đất.  Tất cả hãy lấy bọn ác tặc trên để sám hối trước khi ‘ về nguồn ‘ sửa soạn tái sinh và cơ duyên xấu hay tốt của kiếp tới, đều do kiếp này gieo quả.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Ai là người miền Nam VN, đã được sống sót và đầu thai trở lại khi may mắn đến được bờ đất hứa tự do, chắc không làm sao quên được sự dã man có một không hai của cán binh VC tại bất cứ nơi nào khi chúng hiện diện trước tháng 4-1975. Sau đó là những cảnh xử giảo các thành phần ‘ Quân Cán Cảnh VNCH ‘ qua cái gọi là Tòa Án Nhân Dân. Hình ảnh Cố Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh Trưởng Chương Thiện tại pháp trường Cần Thơ năm nào, bị VC bẽ gập gảy xương sống rồi dùng mã tấu đâm nát cơ thể trước khi bắn, vào những ngày đầu tháng 5 mất nước. Cảnh tượng dã man đó làm sao xóa được, để mà hớn hở hòa hợp, về nguồn và nối vòng tay lớn với giặc nay đã mất hết nhân tính quốc hồn, buôn, bán nước ?&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Lịch sử VN đã bị đảo lộn vì sự bóp méo của ngòi bút trí thức. Dân tộc VN bị mất chủ quyền đất nước và quyền sống vào tay ngụy quyền Hà Nội, cũng chỉ vì mù quáng tin thật vào những đảo lộn của lịch sử và hậu quả dối trá trên nay vẫn là món hàng thời thượng không mất giá. Hồ Chí Minh một đời bán nước hại dân làm ngàn tội ác, nay vẫn được thành BỤT ngồi trên bồ đề trong chùa, trước các đấng thần linh. Lũ ác gian ăn ốc, dân lành VN đổ võ từ thế hệ này cho tới thế hệ khác và tới bao giờ mới chấm dứt ? VN là như vậy đó, thì làm sao mà về nguồn để tìm lại bản sắc dân tộc Hồng Lạc ngàn đời, nay đã bị tức tưởi tanh hôi dưới hố sâu máu và xác người dân Việt đói nghèo trong ngục tù nô lệ VC ?&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;+ LỘT TRẦN NHỮNG BÓP MÉO XUYÊN TẠC VNCH :&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Ngày nay những luận điệu điêu ngoa láo bịp, bẻ cong ngòi bút của đám truyền thông báo chí phương tây mà phần lớn là Mỹ nhắm vào VNCH đã trở nên lổi thời, sau khi Bắc Việt công khai xé bỏ hiệp ưúc ngưng bắn mà chúng đã ký với Hoa Kỳ vào năm 1973. Viết về trận chiến Tết Mậu Thân (1968) Sir R Thompson, nhà bỉnh bút người Anh đã dựa vào lời kể của Dương Quỳnh Hoa, Trần Văn Trà, Hoàng Văn Hoan, Viễn Phương.. viết “ Ðây là ý đồ của Võ Nguyên Giáp, muốn tạo sai lầm chiến thuật, để đẩy VC miền Nam vào chổ chết. Có vậy Hà Nội mới đưa được cán binh Bắc Việt vào Nam trám chổ các đơn vị địa phương vừa bị QLVNCH và Ðồng Minh tiêu diệt , để dành lấy địa vị độc tôn sau cuộc chiến “.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Sự thật là vậy nhưng hệ thống truyền thông Hoa Kỳ đã đổi trắng thay đen, biến thất bại quân sự của CS tại miền Nam thành một chiến thắng chính trị trên đất Mỹ, gieo sự nghi ngờ tới tầng lớp dân chúng về những công bố của chính phủ trong cuộc chiến VN. Từ đầu năm 1967, Hà Nội đã ban hành nghị quyết số 13, kêu gọi đồng bào miền Nam ‘ đồng khởi ‘ để dành thắng lợi trong một thời gian ngắn. Sỡ dĩ có hiện tượng này, là vì Ðảng quá tin tưởng vào cảnh rối ren đang xảy ra khắp VNCH nhất là tại miền Trung. Vin vào đó nên Lê Duân kết luận rằng khi phát động cuộc tổng công kích vào dịp tết Mậu Thân (1968), dân chúng miền Nam sẽ đứng dậy theo chúng và lật đổ chính quyền như họ đã từng làm vào ngày 1-11-1963.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Do ảo tưởng trên, Hà Nội đã chuẩn bị sẳn chính quyền tương lai cho miền Nam bằng cái gọi là ‘ Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình ‘ để làm mồi danh lợi câu bọn trí thức khoa bảng phản thùng VNCH. Ðồng thời dùng liên minh trên để thay thế Mặt Trận Ma GPMN đang hấp hối sắp bị tiêu diệt. Ngoài ra Duẫn còn ban lệnh cho tất cả cán binh bộ đội miền Bắc, thẳng tay tàn sát ‘ ngụy quân ‘ để làm tan rã ‘ ngụy quyền ‘.Kết quả VC đã gây nên một cuộc tàn sát có một không hai trong giòng sử Việt, mà ghê gớm nhất ở cố đô Huế.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Tất cả đều là ảo tưởng, vì chỉ có Huế bị giặc chiếm lâu ngày nên đồng bào không chạy thoát được. Những nơi khác tại VNCH kể cả hai thành đồng của ‘bác‘ là Phan Thiết và Bến Tre, cũng chẳng thấy ai đứng dậy đồng khởi. Ngược lại ở đâu đồng bào đều di tản vào các vùng do QLVNCH trấn giữ, để tránh bị thảm sát vì giặc và bom đạn. VC còn hoang tưỏng tới độ cho rằng lính miền Nam đánh thuê cho Mỹ, nên không có lý tưởng do đó sẽ buông súng đầu hàng ‘ cách mạng ‘ chống lại chánh quyền. Nhưng đã không có chuyện gì xảy ra và dù quân số tại hàng rất ít. Thế mà QLVNCH vẫn giữ vửng được phòng tuyến và phản công sau đó để chiếm lại hầu như tất cả những lảnh thổ bị giặc cưởng chiếm ban đầu.&lt;br /&gt;            &lt;br /&gt;            Dịp này Duẩn bắt giam Hoàng Minh Chính, Vũ Ðình Huỳnh, Ðặng Kim Giang.. đồng thời sang chầu Nga, Tàu mua chịu bom đạn súng ống. Riêng Mao tăng viện cho 300.000 quân phòng không và công binh, để giúp phòng thủ đất Bắc từ Thanh Hóa trở ra. Theo Xuân Sách thì năm 1967, không quân Hoa Kỳ oanh tạc Bắc Việt dữ dội. Kế hoạch tổng công kích Tết Mậu Thân nhằm tấn công thẳng vào VNCH, cũng để giải vây cho Hà Nội.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Tất cả các kế hoạch đột kích miền Nam được chuẩn bị rất chu đáo và bí mật, trong đó có công tác của đội văn công trung ương. Vì quá tin tưởng sẽ chiếm được VNCH nên Duẫn ra lệnh cho Xuân Sách, Huy Du, Vũ Trọng Hối, Huy Thục, Doản Nho.. dàn dựng một bản đại hợp xướng với tiêu đề ‘ xuân chiến thắng ‘ , được nữ ca sĩ Kim Oanh hát và thu vào băng nhựa để phát ra khắp miền Nam sau khi chiếm được Sài Gòn vào giờ G.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Nhưng năm Mậu Thân 1968 vĩnh viển không có giờ G để đám Việt gian có dịp hát. Vì vậy cuối cùng Ðảng chỉ xài có phần 3 của bảng hợp xướng để tuyên truyền qua tựa ‘ VN trên đường chúng ta đi ‘.Chính Võ nguyên Giáp là người đã soạn thảo kế hoạch còn Hồ Chí Minh thì ban lệnh tổng tấn công , qua bài thơ Máu nay vẫn còn :&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;‘ Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua&lt;br /&gt;  thắng trận tin vui khắp mọi nhà&lt;br /&gt;  Nam-Bắc thi đua đánh giặc Mỹ&lt;br /&gt;  Tiến lên ! toàn thắng ắt về ta ‘&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Giáp cũng là tác giả vụ ‘ đổi lịch mới ‘ từ 1-1-1968, để cho ngày mùng một Tết trên đất Bắc trùng với giờ giao thừa tại miền Nam, hầu đánh lừa dư luận để giữ kín bí mật quân sự. Sau tháng 5-1975, VC khoe thành tích và ăn mừng chiến thắng Mậu Thân hằng năm nhưng năm 1969, khi Giáp được một nhà báo phương tây phỏng vấn, thì cũng chính miệng hắn chối là Hà Nội không hề hay biết gì về cuộc chiến Tết Mậu Thân xảy ra tại Miền Nam. Tư cách của các chóp bu đảng CS là thế đó, nên khi chúng nắm được quyền lảnh đạo đất nước, VN không đói nghèo hèn nhục trước giặc Tàu và thế giới, thì mới là chuyện lạ.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;+ THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN TẠI HUẾ :&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Tỉnh Thừa Thiên nằm giữa miền Trung VN, có diện tích 5054km2 và dân số tính đến năm 2000 là 1.045.134 người với các quận Phong Ðiền, Quảng Ðiền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới và Nam Ðồng. Tỉnh Lỵ là thành phố Huế hiện nay có diện tích 380km2 với 209.043 người. Là cố đô của nhà Nguyễn (1802-1945), Huế muôn đời vẫn đẹp và thơ mộng, mang nhiều sắc thái tiêu biểu cho dân tộc, nhân chứng của một chặng đường lịch sử, văn hóa, kiến trúc VN, nên trong hội nghị lần thứ 17 tại Catagenna nước Columbia vào tháng 12-1993, tổ chức UNESCO của LHQ đã công nhận Huế là di sản văn hóa của nhân loại cần bảo tồn&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Ngược dòng lịch sử, từ năm 1366 Huế đã là thủ phủ của Ðàng Trong, tức là hai Châu Ô, Rí do vua Chế Mân cuả Chiêm Thành, dâng cho nhà Trần làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Ðại Việt, từ đó trở thành đất Thuận Hóa. Những gì còn lại của Huế hôm nay chỉ là một phần công trình của cố đô trong đống gạch vụn do Việt Cộng và bọn Việt Gian VNCH tàn phá vào Tết Mậu Thân 1968. Ngoài ra Huế còn nhiều nét tiêu biểu khác như chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, chợ Ðông Ba, với trường Quốc Học cổ kính nằm cạnh bờ sông với hàng phượng vỹ nở rộ mỗi độ hè về, nuí Ngự Bình trước tròn sau méo, sông An Cựu nắng đục mưa trong, hồ Tĩnh Tâm sen nở ngút ngàn và Phú Văn Lâu trơ gan cùng tuế nguyệt.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Từ năm 1967 Hà Nội đã quyết định tổng tấn công VNCH vào những ngày hưu chiến Tết Mậu Thân 1968. Trong số 44 tỉnh, thị tại miền nam bị đột kích, thì Saì Gòn và Huế là quan trọng hơn cả. Vì trại Lực lượng đặc biệt A-Shau rút đi, nên thung lũng A Shau bị bỏ ngõ và VC đã lợi dụng dịp này để chuyển một số lớn bộ đội vào tấn công cố đô với sự dẫn đường chỉ lối của đám Việt Gian tại Huế. Trận chiến mở màn vào sáng mồng hai Tết nhằm ngày 31-1-1968, bằng hai cánh quân : Ðoàn 6 gồm các tiểu đoàn đặc công K1,K2,K6 và K12 từ phía bắc bên tả ngạn sông Hương, tấn công BT/.SD1BB tại đồn Mang Cá, phi trường Tây Lộc, Ðại Nội. Ðoàn 5 gồm các tiểu đoàn K4A,K4B,K10 và K21 từ phía nam bên hửu ngạn sông Hương, hợp với Thành đội tấn công các cơ sở hành chánh phía nam. Ngoài ra còn có Ðoàn 9 gồm hai tiểu đoàn 416,418 hợp với một đơn vị mang tên Ðường 12 tấn công mặt tây.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Cũng nói thêm là VC đã lợi dụng những xáo trộn tại Huế trong các năm 1965,1966, xâm nhập hoạt động cũng như móc nối dụ dổ một số học sinh,sinh viện, quá mê thầy mà phản nước hại dân. Thật ra mặt trận quan trọng nhất của VC ở Huế là mặt trận chính trị, vì vậy Hà Nội bất chấp máu xương của cán binh và thường dân vô tội, ra lịnh cho đám tàn binh phải cố thủ trong Ðại Nội dù thực trạng bi thảm tuyệt vọng bởi các vòng vây của quân lực Hoa Kỳ và VNCH.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Phụ trách công tác tổng khởi nghĩa, để lập chính quyền cách mạng ở Huế là Hoàng kim Loan và Hoàng Lanh, đã vào nằm vùng từ lâu trong nhà một giám thị trường Quốc Học là Nguyễn Ðoá. Ngoài ra còn có Nguyễn trung Chính, Nguyễn hửu Vân (giáo sư trường Âm nhạc kịch nghệ), Phan Nam, Nguyễn Thiết. Ngày 14-2-1968 đài VC phát thanh tại Hà Nội cho biết đã lập xong chính quyền cách mạng tại Huế do Lê văn Hảo làm chủ tịch, còn Ðào thị xuân Yến và Hoàng phương Thảo làm phó. Ngoài ra còn có cái Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình được Hà Nội nặn ra ngày mồng ba Tết (1-2-1968) cũng do Lê văn Hảo, tiến sĩ giảng sư về nhân chủng học tại Ðại Học Huế và Sài Gòn làm chủ tịch liên minh.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Theo Hảo vì muốn trốn lính, nên 1953 qua Pháp du học nên bị tiêm nhiểm chủ nghĩa cọng sản của Trần văn Khê, Nguyễn khắc Viện. Vì vậy vào các năm 1965,1966 dù đang sống trong cảnh tột đỉnh giàu sang, chức trong, lại được trốn lính nhưng vẫn tán tận lương tâm, theo VC nằm vùng là Hoàng phủ ngọc Tường và Tôn thất Dương Tiềm vào MTGPMN và ra bưng cuối tháng 12/1967. Trong Liên Minh Ma này còn có Hoàng phủ ngọc Tường, Thích Ðôn Hậu, Nguyễn Ðoá, Hoàng phủ ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân.. Tóm lại mặt trận được chỉ huy tổng quát bởi Lê Minh, trưởng ban an ninh khu ủy Trị Thiên, còn Tống hoàng Nguyên và Nguyễn đình Bảy Khiêm chỉ lo về phần thủ tiêu, giết người vô tội tại Huế. Theo Bảy Khiêm , chính Y đã giết rất nhiều sĩ quan và cán bộ,công chức VNCH bị kẹt tại Huế, cùng các giáo sư người Ðức dạy tại Ðại học Y Khoa, qua chỉ điểm của VC nằm vùng và sau này Lê Minh lẫn Bùi Tín đều xác nhận Việt Cộng đã tận tuyệt tàn sát vô nhân đạo đồng bào vô tội tại Huế vào Tết Mậu Thân 1968.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Ngay từ đầu nhờ lợi dụng dịp hưu chiến, nhiều đơn vị cho các quân nhân về nhà ăn Tết, nên VC đã chiếm được hầu hết các cơ sở hành chánh, khu Ðại Nội, chợ Ðông Ba, cửa Thượng Tứ, An Hòa, Chánh Tây.. ngoại trừ BTL/SD1BB tại đồn Mang Cá, cơ sở MACV,Tiêu khu Thừa Thiên, Ðài phát thanh, Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải Quân vẫn do QLVNCH kiểm soát.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Mồng ba Tết (1-2-1968) một ngày sau đó, Chiến đoàn Dù với 2 tiểu đoàn 2,7 và chi đoàn 2/7 Thiết giáp từ phía bắc vào giải vây Huế. Hai đại đội TQLC Hoa Kỳ cùng 4 chiến xa M48 trong Chiến đoàn X-Ray đóng tại Phú Bài cũng về Huế tăng cường phòng thủ MACV. Chiều ngày mồng 4 Tết, TÐ 9 Dù được trực thăng vận vào chiến trường, từ đây cho tới ngày 12-2-1968 , cuộc chiến trở nên khốc liệt bạo tàn với sự tổn thất nhân mạng rất cao của cả hai phía.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Cùng ngày đó Chiến đoàn A Thủy quân lục chiến VN gồm các tiểu đoàn 3,4,5 thay thế chiến đoàn Dù, tiếp tục giải tỏa áp lực VC tại sân bay Tây Lộc và Ðại Nội. Ngày 19/2 TQLC mở chiến dịch Sóng Thần 739/68. Ngày 22/2 hai tiểu đoàn 21 và 39 BĐQ được tăng cường tại Huế và VC cũng bắt đầu tháo chạy. Ngày 25/2/1968 Biệt động quân chiếm lại Khu Gia Hội, chấm dứt chiến cuộc tại Huế với đổ nát, điêu tàn, nhà cửa, cầu cống, cây cối, đường xá, biến thành tử địa với xác người nằm la liệt đã sình thối. Tất cả chỉ còn là sự tàn nhẩn, thê lương, từ bàn tay đẳm máu của VC và bọn Việt gian mang đủ loại mặt nạ gây nên. Tóm lại không còn lời nào để đủ viết về Huế đang quằn quại trong lửa máu, giống như những nhịp cầu Tràng Tiền trên Hương Giang đớn đau gãy xập. Hởi ôi sắt thép, gổ đá còn biết rơi nước mắt với Huế thê lương, trong khi đó lại có không ít người thản nhiên đứng vổ tay cười.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Những hành động dã man nhắm vào dân lành tại Huế , làm nhớ tới Nga Sô tàn sát hơn 5000 hàng binh Ba Lan phần lớn là sĩ quan vào tháng 9-1939 tại rừng Katyn ở phía tây thành phố Smolensk, chứng tỏ bản chất hiếu sát vốn tiềm tàng trong máu óc của cọng sản, dù chúng là ai chăng nửa, tất cả đều giống nhau vì cùng chung một tổ,một lò.Trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, Huế là thành phố bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như vật chất vì bị VC chiếm đóng lâu dài nhất. Riêng người Huế sỡ dĩ bị tàn sát dã man, theo một số nhân chứng , do VC được chỉ điểm bởi một số nằm vùng địa phương vì thù oán nhau mà trả thù, rồi lại được tự do đi lại trong thành phố nên tự do hành động, nhất là trong khoảng từ mồng hai tới mồng bốn, tha hồ đi từng nhà,lôi từng người ra bắn giết theo ý muốn, đúng với kỹ thuật bắt và thủ tiêu theo KGB và Maoit .&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Trong số các hung thần can dự tới bửa tiệc máu tại Huế, dư luận trước sau vẫn nhắm vào Lê văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân. Năm 1966 khi còn là một sinh viên, Nguyễn đắc Xuân từng tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” quậy nát Huế, sau đó trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” và khuyến dụ các quân nhân VNCH bị kẹt, để lập cái gọi là đoàn nghĩa binh.. Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế không hưởng ứng tổng khởi nghĩa, trái lại bỏ trốn sang các khu vực có QLVNCH như Mang Cá, Trường Kiểu Mẫu, Tiểu Khu Thừa Thiên, Bến Tàu,Phú Bài.. Bắt đầu ngày mồng ba Tết, QLVNCH và Hoa Kỳ phản công, ngày 7-2-1968 VC giựt xập cầu Trường Tiền. Ngày 15-2 Quân Ủy cọng sản tại Hà Nội ban lệnh cho VC tử thủ tại Huế, nhưng tình hình càng lúc càng bi đát cho VC nên Lê Minh muốn rút quân. Ngày 23-2 VC bị đẩy ra khỏi Huế, lá cờ VNCH lại tung bay trên kỳ đài ở Phú văn Lâu.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Nói chung cọng sản tàn sát đồng bào Huế nhiều nhất là tại khu dân cư Gia Hội vì vùng này bị VC chiếm lâu nhất từ ngày mùng 2 Tềt đến 22-2-1968 mới được Biệt Ðộng Quân giải tỏa, bởi vậy giặc và Việt gian mới có cơ hội giết nhiều đồng bào vô tội. Cho đến nay không ai biết chính xác số người bị VC tàn sát tại Huế là bao nhiêu nhưng căn cứ vào thống kê số hài cốt tìm được trong một số hầm chôn tập thể sau khi giặc bị đánh duổi khỏi thành phố, tại các địa điểm Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bải Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Ðức, Ðồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Ðông Ba, Trường An Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông,Chùa Từ Quang,Lăng Gia Long, Ðồng Di,Vịnh Thái,Phù Lương , Phú Xuân,Thượng Hòa,Thủy Thanh,Vĩnh Hưng và Khe Ðá Mài.. tổng cộng đếm được 2326 xác.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Về câu hỏi tại sao VC tàn sát thường dân vô tội, đến nay Hà Nội vẫn tránh né, còn Võ nguyên Giáp thì đểu giả hơn khi bị các ký giả ngoại quốc phỏng vấn sau Tết Mậu Thân, đã trả lời là Bắc Việt không hề biết vì đó là chuyện của MTGPMN và VNCH. Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thì động cơ cọng sản tàn sát dân chúng tại Huế, ngoài một lý do nhỏ là sự trả thù do hờn oán trước đây giữa cá nhân và cá nhân, thì tàn sát theo kế hoạch phá huỷ và làm rối loạn bộ máy cầm quyền của VNCH, điều này đã được ghi lại trong một tài liệu cuả cán bộ VC , bị SĐ1 Không kỵ Hoa Kỳ bát được tại tỉnh Thừa Thiên ngày 12-6-1968 .Tàn sát để khủng bố và cảnh cáo đe dọa dân chúng đừng tòng quân chống cộng. Tàn sát tín đồ Thiên Chúa Giáo để chia rẽ sự đoàn kết tại miền nam, tạo sự nghi kỵ giữa các tôn giáo cho tới ngày VC cưởng chiếm dược miền Nam mới chấm dứt vì VC độc tài đảng trị, cấm biểu tình xuống đường, nên bốn bên bốn phía bình đẳng chịu sống chung hòa bình. Từ đó mới không thấy tự thiêu, tuyệt thực và ra báo chống đối, bêu xấu, hạ nhục chính quyền như cơm bửa thời VNCH. Tàn sát dân chúng để gây tiếng vang với thế giới.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Ðem các biến cố năm1885 tại Huế và 1946 ở Hà Nội để so sánh với Mậu Thân 1968 tại Huế , bổng thấy lạnh mình về những lời chạy tội của Ðại Tá VC Bùi Tín, khi trả lời về cuộc tàn sát của VC đối với thường dân tại Huế năm 1968. Theo nhận xét của Nguyễn đức Phương trong ‘ Chiến Tranh toàn tập ‘ thi Bùi Tín không biết gì về qui ước Genève dành cho tù binh chiến tranh, hoặc biết nhưng giả bộ ngây thơ không biết để có lý do bào chửa sự tàn ác dã mang của cán binh VC và biết thêm về quan niệm của Hà Nội, luôn qui chụp tất cả những ai chống đối họ, đều bị gán là tù binh với kết quả như Bùi Tín nói là phải được chết để giữ gìn bí mật quốc phòng.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Theo Nguyễn Lý Tưởng, thì những hành động dã man của Việt Cộng, tại Thành Nội và Gia Hội,do cái gọi là Toà Án Nhân Dân được quyết định bởi các chóp bu trong Liên Minh Dân Chủ Hòa Bình, là Lê văn Hảo, Thích Ðôn Hậu, bà Nguyễn Ðình Chi.. nhưng chủ chốt và dã man tàn bạo vẫn là bọn theo phong trào tranh đấu chống VNCH năm 1966, sau đó theo VC và quay về Huế như Hoàng phủ ngọc Tường (giáo sư), Hoàng phủ ngọc Phan (sinh viên y khoa), Nguyễn đắc Xuân (sinh viên sư phạm),Trần quan Long (sinh viên sư phạm), Phan Chính Dinh hay Phan Duy Nhân (sinh viên).. dẫn an ninh VC như Tống hoàng Nhân, Bảy Khiêm.. đi lùng bắt bạn bè, thân nhân, các thành phần quân, công, cán, chính VNCH cũng như các đảng phái bị kẹt lại tại Huế.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Hiện nay tất cả những bí mật của lịch sử gần như được khai quật trong đó có cuộc thảm sát thường dân tại Huế năm Mậu Thân. Những tội nhân thiên cổ ngoài bản án của lương tâm, đạo đức và sự nguyền rủa của đời, nên không ngớt tìm đủ mọi cách để biện minh về tội lỗi của mình. Năm 1988,trên báo Sông Hương và được dịch đăng lại trên tờ Newswwek ở Hoa Kỳ, Ðại Tá Bắc Việt Lê Minh, nguyên chỉ huy mặt trận Thừa Thiên-Huế, xác nhận và chịu trách nhiệm về việc tàn sát dân chúng Huế nhưng vẫn đưa ra lý do là lúc đó VC đang ở vào giờ thứ 25, nên không kiểm soát được .&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;             Còn thủ phạm chính Hoàng phủ ngọc Tường thì đổ thừa cho cục bộ, địa phương chứ không phải tại đảng, vẫn giữ nguyên ý là miền nam mất vì cách mạng chứ không bị cộng sản quốc tế xâm lăng, và trên hết vào ngày 12-7-1997 Tường công khai chối tội là không tham dự mặt trận Huế, vì lúc đó y đang trốn tại địa đạo trong quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Còn nhân vật bị bia miệng nhắc tới là Hoàng phủ Ngọc Phan.. mà người Huế tưởng lầm ? Lê văn Hảo hiện đang sống tại Pháp cũng chối tội. Sau rốt chỉ có Hoàng phủ Ngọc Phan và Nguyễn đắc Xuân vì lúc đó gần như là công an, cai tù, chánh án và đao phủ thủ.. nên người Huế ai cũng nhận được, vì vậy phải chịu tai tiếng nhơ nhớp muôn đời.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Ngày nay ai cũng biết Tết Mậu Thân VC thua lớn và Tổng thống Hoa Kỳ là Johnson phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử vì đã cố tình tạo nên một lỗi lầm nghiêm trọng về đạo đức., gây tử vong cho nhiều người có thể tránh khỏi nếu được báo trước sự thật.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            Tóm lại dù Hà Nội đã chuẩn bị kế hoạch cưởng chiếm VNCH thật chu đáo, cũng như đã tin tưởng tuyệt đối vào đám Việt gian Miền Nam nhưng cuộc tổng tấn công đã hoàn toàn thất bại về quân sự. Chúng cũng thua VNCH về phương diện đạo đức và chính nghĩa, khi đã tàn nhẩn bất lương xô đẩy hàng trăm ngàn người vào cỏi chết, kể cả bắt các thiếu niên đi lính đở đạn ‘ sanh bắc tử nam’ Hồ, Duẩn lẫn Giáp đã phỉnh gạt cán binh chết lót đường cho chúng khi nói láo rằng ‘ Miền Nam đã được giải phóng, nên miền Bắc chỉ vào tiếp thu mà thôi’.&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;            &lt;br /&gt;Viết tại Xóm Cồn Ha Uy Di&lt;br /&gt;Tháng 1/2010&lt;br /&gt;Mường Giang&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-8906327163947265936?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/8906327163947265936/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=8906327163947265936' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/8906327163947265936'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/8906327163947265936'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/nhan-tet-canh-dan-2010-tuong-niem-ong.html' title='Nhân Tết Canh Dần (2010) tưởng niệm đồng bào Huế bị thảm sát trong Tết Mậu Thân (1968)'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-834376985713953597</id><published>2010-01-25T12:26:00.000-08:00</published><updated>2010-01-25T12:29:18.815-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='nguyễn văn hóa -bàn về quan điểm sử của Seth Jacob'/><title type='text'>Bàn về quan điểm lịch sử mới của Seth Jacobs</title><content type='html'>&lt;a href=""&gt; &lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;blockquote&gt;&lt;br /&gt;&lt;/blockquote&gt;Nguyễn Văn Hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bàn về quan điểm lịch sử mới của Seth Jacobs khi nhìn lại chiến tranh Việt Nam và chính sách đối ngoại của Mỹ.&lt;br /&gt;(bổ sung ngày 31.10.2006 –nvh)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Seth Jacobs là một sử gia, giáo sư sử học trường Đại học Boston, bang Massachuttes. Ông còn là người Do Thái (họ Jacobs !). Đặc biệt trong vòng 6 năm qua, ông viết 2 cuốn sử đề cập đến chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa của Tống thống Diệm và mối liên hệ triết lý chính trị đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn mở đầu Chiến Tranh Lạnh sau Thế Chiến Thứ II. Nói ngắn gọn về ‘triết lý chính trị đối ngoại’ đó là “yếu tố tôn giáo.” Thật vậy, tôn giáo vừa là công cụ, chiêu bài, vừa là chính sách thực tiễn áp dụng phổ quát lên vai trò lãnh đạo của các quốc gia đồng minh nhỏ bé của Hoa Kỳ, như một sức mạnh tinh thần khả dụng đối đầu với sự truyền bá “vô thần” của hai quốc gia địch thủ là Nga sô và Trung Hoa lục địa. Bài khảo luận lịch sử “khai vị” cho 2 cuốn sử nói trên được đăng tải trên tạp chí Boston College, Volume 25 chuyên đề: Diplomatic History, Số 2, Thu 2001:  ‘“Our System Demands the Supreme Being’: America’s Religious Revival and the ‘Diem Experiment.’ 1954-1955” .&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và tiếp theo sau là cuốn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. “Người Mang Phép Lạ của Mỹ ở Việt Nam: Ngô Đình Diệm, Tôn Giáo, Chủng Tộc và Sự Can Thiệp của Mỹ ở Đông Nam Á, 1950-1957,” Duke University Press, 2004   (America’ s Miracle Man in Vietnam: Ngo Dinh Diem, Religion, Race and U.S. Intervention in Southeast Asia, 1950-1957, Duke University Press, 2004).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuốn thứ hai, vừa xuất bản trong tháng 9, 2006:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. “Vị Quan Lại Chiến Tranh Lạnh: Ngô Đình Diệm và Nguồn Gốc của Chiến Tranh Mỹ ở Việt Nam, 1950-1963,” Nhà xb. Rowman &amp; Littlefield, 2006.   (Cold War Madarin: Ngo Dinh Diem and the Origins of America’s War In Vietnam, 1950-1963, Rowman &amp; Littlefield, 2006).&lt;br /&gt;Một bài báo khác trên tạp chí Boston College, Số Mùa Xuân 2005 (Spring 2005) , gần như thu tóm luận sử của hai cuốn sách nói trên, “Hoa Kỳ đã hổ trợ vị Tổng thống thất bại và ‘đạo đức giả’ Miền Nam Việt Nam như thế nào?”  (How America Came to Back South Vietnam’s Depised and Doomed President?).  [i]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Không phải ai cũng có thể chấp nhận ‘tiền đề’ luận điểm lịch sử trên đây một cách dễ dàng, và dù cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Cộng Sản và Tư Bản đã triệt tiêu, lịch sử nhân loại đang bước qua khúc quanh tiến bộ mới, nhưng với sự xung đột quyền lợi của các siêu cường đưa tới chiến tranh vùng hoặc toàn cầu, vai trò “tôn giáo” được sử dụng như công cụ và chiêu bài vẫn không thay đổi. Một số nhà bình luận chính trị quốc tế đã ví von so sánh chính sách Hoa Kỳ đã tạo dựng Saddam Hussein tương tự như họ đã tạo dựng và ủng hộ các chế độ miền Nam trước đây, rồi đến khi thực tế chính trị không còn phù hợp với quyền lợi của mình, Hoa Kỳ đã đạp đổ các chế độ đó không thương tiếc. Nếu chúng ta đồng ý một cách giản đơn lời bình luận này, thì chiến tranh trên bình diện cụ thể là vật chất nhưng lại hóa dạng thành một cuộc xung đột văn hóa và sự tôn thờ Thượng Đế, Chúa nào chính thống, Chúa nào tài năng phép tắc hơn!?, hay Chúa của tao hơn Chúa mày!  (Trên các tin tức thời sự chiến tranh ở Trung Đông hiện nay, báo chí thỉnh thoảng tường thuật vài lính Mỹ thường nói, Our God is better than your God đó sao!).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng từ thực trạng xung đột văn hóa tầm quốc tế nói trên, đồng thời chúng ta cũng nhận ra không còn vấn đề xung đột giữa hữu thần và “vô thần” (qua sự sụp đổ và biến dạng chính trị ở các quốc gia cộng sản) nữa. Vô thần, hay nói cách khác, con người không còn có niềm tin nào ngoài thế giới vật chất và lý trí không còn chỗ đứng trong sinh hoạt xã hội thực tại, dù tâm linh chỉ là một hình thức thụ động. Trong thời kỳ xung đột của Chiến Tranh Lạnh giữa Chủ nghĩa Tư Bản và Cộng Sản, ông Ngô Đình Nhu nhìn thấy rõ căn nguyên của sự mâu thuẫn giả hình đó. Ông nói, “Trong cuộc Cách Mạng Thế Giới này (tức Cộng Sản và Tư Bản –nvh), Âu Châu đã song hành “viện trợ” (ý hệ -nvh) cho các quốc gia chậm tiến. Đó là một thái độ. Một bên là thái độ của chủ nghĩa thực dân, bên kia là cộng sản. Bởi vì Âu Châu là nơi sản sinh lý thuyết chủ nghĩa cá nhân. Chủ nghĩa cá nhân lại cho ra đứa con song sinh: một đứa gọi là Chủ nghĩa Thực dân, một đứa gọi là Chủ nghĩa Cộng sản.”  [ii]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ quan điểm lịch sử đó, ông Ngô Đình Nhu muốn tiến hành đường lối chính trị thực tiễn:  “Tất cả anh em chúng ta ở Á Phi phải tìm con đường thoát thứ ba, không phải là lực lượng thứ ba, không giống như Âu Châu và Chủ nghĩa Cộng sản. Làm thế nào đế thoát khỏi nó, bằng phương pháp gì, theo từ nghĩa nào?  Đó mới chính là vấn đề, và để giải quyết nó chúng ta không thể bắt chước bất cứ ai, bởi chúng ta muốn phát triển một chính sách mới, dĩ nhiên chúng ta phải có phương pháp mới, và để có phương pháp mới chúng ta phải nổ lực trong lãnh vực văn hóa. Đúng vậy, vấn đề xây dựng quốc gia, xây đắp một nền dân chủ ở Châu Á là một vấn đề văn hóa.”   [iii]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó là yếu tính chính trị giải thích được tại sao ông Nhu chống lại chính sách can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ. Và, để trả lời một câu hỏi về tương quan giữa Ấn Độ và Việt Nam trong vị thế “trung lập”, Ngô Đình Nhu mở rộng quan điểm chính trị của ông với vai trò của Phật Giáo trong vấn đề phát triển như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Chúng ta tự đặt một câu hỏi, có gì trong Phật Giáo có thể làm cho chúng ta tiến bộ, mà thường chỉ nghe nói đến Từ Bi (Compassion). Người dân trong các nước Phật Giáo giải thích về lý thuyết Từ Bi. Nhưng nếu chúng ta lấy Nhân Vị để đo lường Từ Bi, thường thường [chúng ta thấy rằng]   [iv] Từ Bi là cơ hội để khai thác khuynh hướng của người dân làm việc từ thiện và quên mất vấn đề công lý. Công Lý phải đi trước Từ Bi, Từ Bi phải bắt đầu với công lý. Với nền công lý trong xã hội, chúng ta nhận ra rằng, chúng ta đã lo lắng thái quá với khái niệm Từ Bi trong Phật Giáo, bởi lẽ Từ Bi ấy được thai nghén trong Nhân Vị là gì?  Có nghiã là chúng ta phải có công lý trước, và Từ Bi theo sau. Chúng ta không đòi hỏi phải cho người dân vật chất (nào đó –nvh) mỗi tháng một lần, xong họ về nhà thỏa mãn với lòng Từ Bi của chúng ta rồi họ chẳng quan tâm ai chết trong chính căn nhà của chúng ta nữa. Vậy là sai lầm. Từ Bi hiện hữu vì nền tảng của công lý hiện hữu.”  [v]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và lý thuyết Nhân Vị của Ngô Đình Nhu có thể tóm tắt trong khái niệm này –Con người chỉ thật sự có giá trị, nhân cách khi hắn có thể làm chủ tư hữu căn bản trong đời sống, chẳng hạn như nhà ở, ruộng vườn canh tác, công việc làm, mà ông gọi là chủ quyền tư hữu (‘private ownership’). Từ sự làm chủ tư hữu, hắn (con người) tiến tới sự tự do và độc lập với chính quyền, nên chính quyền không thể áp đặt sự độc tài chuyên chế lên hắn!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế nhưng, khi nói đến chế độ của ông Ngô Đình Diệm thường các sử gia đánh mất vai trò chủ đạo tư tưởng chính trị của ông Ngô Đình Nhu; cũng bởi lẽ tư tưởng chính trị này chưa có cơ hội  thi triển. Trong khi ấy, để đối trị với hai nước lớn Cộng sản lớn trong cuộc Chiến Tranh Lạnh, chính sách của Hoa Kỳ nửa úp nửa mở dùng “tôn giáo” (Ki-tô giáo) như một khả thể văn hóa đối đầu với chủ trương “vô thần”, vô hình chung lại đối nghịch với chủ trương chính trị của Ngô Đình Nhu. (Cần đặt ra một câu hỏi nơi đây, tại sao trong ý thuyết ông Ngô Đình Nhu không hề có ý chống báng Phật Giáo mà còn có thài độ thỏa hiệp nữa, nhưng tại sao trong thực tế ông lại đàn áp PG?  Đây là đề tài sẽ được thảo luận ở bài viết khác!)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở đây, người viết xin nêu ra yếu tố “tôn giáo” như là “khả thể văn hóa”. Vậy, “khả thể văn hóa” đó là gì? Seth Jacobs trình bày nó qua quan điểm lịch sử của ông:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sáng ngày mồng 2 tháng 11, 1963, hai anh em ông Diệm và Nhu bị thảm sát…. &lt;br /&gt;“Thế là chấm dứt 9 năm của Hoa Kỳ trong nổ lực tạo dựng cho ông Ngô Đình Diệm trở thành một vị lãnh đạo quần chúng có khả năng chống cộng đối chọi với Hồ Chí Minh ở miền Bắc. Chính quyền Eisenhower và Kennedy đã đổ vào hàng tỉ đô la cho ông Diệm với sự tin chắc rằng ông, chỉ có mình ông thôi, là đại biểu cho sự sống còn quốc gia miền Nam Việt Nam. Một lô cố vấn chính trị Mỹ đến Sài Gòn để giúp đỡ ông Diệm mọi thứ từ giao tế nhân sự đến thảo hoạch hiến pháp; cố vấn quân sự Mỹ đến huấn luyện quân đội Nam Việt Nam chống lại du kích quân cộng sản và sự đe dọa nền trung lập với uy thế của ông; báo chí luồng chính của Mỹ đã ca tụng ông Diệm là “Một Phép Lạ của Việt Nam” (báo Life) và “một người mà lịch sử ban cho như một hình ảnh vĩ đại của thế kỷ 20” (tờ New York Times). Gần cả thập niên, những nhà làm chính sách Mỹ đã kiên trì với chiến lược mà nhà báo Homer Bigart đã châm biếm là “bơi và chìm theo với Ngô Đình Diệm.”  Nhưng sau tấn bi kịch mà ông Diệm thủ vai chính đã tàn, tất cả những gì mà Hoa Kỳ đã chứng minh là sự hổ trợ trong gần thập niên là danh sách phí tổn láo khoét và nền cộng hòa của Miền Nam Việt Nam càng rối loạn tệ hại hơn cả trong  trong mấy tháng đầu mà chế độ non yếu được hình thành.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong lúc mọi hiện tượng lịch sử là đối tượng của những làn sóng xét lại và chống-xét-lại, thật là khó mà định tính chính sách “bơi và chìm theo” là gì ngoài sự thảm họa. Khi ông Diệm trở thành thủ tướng của Nam Việt Nam năm 1954, chỉ có chừng vài chục cố vấn Mỹ trong quốc gia non yếu. Thế mà vào lúc ông bị giết, nhân sự Mỹ “toàn quốc” đã lên vượt qúa con số 16 ngàn người. Pháp là quyền lực thống trị ở Việt Nam trong gần thế kỷ, từ chối thừa nhận cái gọi là một “cuộc thử nghiệm Diệm” và từ bỏ cựu thuộc địa của họ trong mấy tháng đầu khi ông Diệm nắm chính quyền, do đó, họ đổ lỗi cho Hoa Kỳ có trách nhiệm chính cho sự tô bồi làn sóng đỏ ở Đông Nam Á châu. Chế độ của ông Diệm đánh dấu giao điểm chính sách của Mỹ từ cố vấn và hổ trợ đến đồng minh trong cuộc nội chiến của người Việt. Sự cam kết với ông Diệm là điều kiện tiên quyết đưa tới kết thúc thất bại và nhục nhã của Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Các sử gia về chiến tranh Việt Nam thường quy tội hợp đồng định mệnh này cho đặc tính chống cộng của chiến tranh lạnh Mỹ và sự nặc danh của các chính khách Sài Gòn . Tinh thần chống cộng hung dữ của ông Diệm, theo như các biện luận, đã làm cho ông ta trở thành một chiến sĩ được ủy nhiệm của thế-giới-tự-do cho chiến tranh lạnh của Mỹ ngăn chận ảnh hưởng của Nga sô và Trung Hoa bên kia phía bắc vĩ tuyến 17, đặc biệt kể từ khi Hoa Thịnh Đốn không còn quan tâm đến bất cứ một địch thủ xứng đáng nào với thủ tướng miền Nam Việt Nam.  Còn theo các bản tường trình đầy thận trọng vào giữa thập niên 50 ở Sài Gòn đã có các chính khách chống cộng không chê vào đâu đuợc có thể là chọn lựa thay thế ông Diệm, mà một nhóm thảo hoạch chính sách của Tổng thống Dwight Eisenhower đã được thông tin về sự hiện diện của họ, như cựu thủ tướng Phan Huy Quát, có lúc gần như đã thay thế ông Diệm, như J. Lawton Collins, đặc sứ của Eisenhower ở Việt Nam, đã không ngừng khuyến cáo hiệu quả của sự thay thế đó. Một vài ứng viên thích hợp khác là tổng trưởng ngoại giao Trần Văn Đỗ và Tướng Nguyễn Văn Hinh. Các nhân vật này đều chống cộng và họ có nhiều kinh nghiệm chính trị hơn ông Diệm. Thế nhưng không một ai nhận được sự ủng hộ của chính quyền Eisenhower.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hơn nữa, luận điểm cho rằng từ khởi đầu ông Diệm chứng tỏ là nhà cải cách tự do, và chỉ trở thành một người độc tài chỉ mấy tháng sau cùng thôi –là một lối tường thuật của các chính quyền Kennedy và Johnson đã truyền bá trong thời gian đầu đến giữa thập niên 1960 –là một điều sai lầm rõ rệt. Những sự lượng giá tổng hợp của các quan sát viên Mỹ trong thời gian đầu của chế độ ông Diệm đã tương đồng với phẩm chất đã mang lại sự giết hại ông trong 9 năm sau đó : kỳ thị chống lại các người không-Công-Giáo, từ chối sự chia xẻ quyền hành, sẵn sàng dùng bạo lực để đàn áp những người đối lập. Ông Diệm chẳng bao giờ muốn giả bộ trở thành bất cứ cái gì khác ngoài con người thật của ông là, ông chẳng bao giờ muốn sự đổi thay.&lt;br /&gt;Những lời giải thích truyền thống về sự lao đầu với thử nghiệm ông Diệm cũng không đứng vững đối với những người đối diện với chính sách đó, lẽ ra cần phải hiểu biết khá hơn. Hiệp ước Geneva 1954 thiết lập bởi cuộc thương thảo hòa bình đa phương cho Chiến tranh Đông Dương cho phép Hoa Kỳ có hai năm để tạo dựng một ứng viên có khả năng thách thức với Hồ Chí Minh trong cuộc tổng tuyển cử toàn quốc. Tại sao Eisenhower và Tổng trưởng Ngoại giao John Foster Dulles lại chọn lựa một người Công Giáo sùng đạo trong một quốc gia có đến 90 phần trăm là Phật tử? Tại sao lại cột buộc tương lai của Mỹ ở Đông Nam Á châu vào một cá nhân có tính khí thất thường và thiếu sự mềm dẽo cần thiết để đương đầu với các vấn đề quan trọng? Và, tại sao sử gia Barbara Tuchman đã dẫn giải về những chính trị gia thông minh đã có thái độ trái ngược với lý trí và sự đỉnh ngộ cần có? Trong một buổi nói chuyện sau bữa ăn tối với các nhân viên của Bộ Ngoại Giao vào ngày 11 tháng 4, 1955, Dulles đã nêu ra lý lẽ trần truồng là, chính giá trị và niềm tin tôn giáo đã lèo lái chính sách của ông.”   [vi]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong khi đó, tờ Đài Bắc Thời Báo (The Taipei Times) là một cơ quan ngôn luận mang màu sắc Phật Giáo, thân chính phủ Đài Loan hiện nay, rất đồng quan điểm với Seth Jacobs. Chúng ta cần biết, chính phủ Đài Loan hiện nay chống lại chính sách “một nước Trung Hoa” của Trung Cộng, khác biệt với hậu thân Quốc Dân Đảng của họ Tưởng (**) đang có khuynh hướng đi tới sự hợp tác để thống nhất một nước Trung Hoa theo chính sách của lục địa. Đây là dữ kiện mà những người làm chính trị để bảo vệ cho tinh thần Phật Giáo VN trong giai đoạn hiện tại cần tìm hiểu thêm. Dưới đây chúng tôi xin lược dịch bài điểm sách của Bradley Winterton trên mạng The Taipei Times:&lt;br /&gt;“Tôn Giáo đã làm cho Mỹ kết hôn với mâu thuẫn ở Việt Nam”   (Religion kept US married to Vietnam conflict.)   [vii]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Trong thập niên 1950 có ba nhà lãnh đạo Á châu nổi bật đều là tín đồ Ki-tô giáo –Tưởng Giới Thạch của Đài Loan, Lý Thừa Vãn của Nam Hàn và Ngô Đình Diệm của Nam Việt Nam. Cuốn sách xuất sắc này đã nói đến câu chuyện Mỹ đã can dự sâu xa để hổ trợ cho ba nhà lãnh đạo đó như thế nào.&lt;br /&gt;Nhưng trước khi nói những gì về tác giả, điều quan trọng là cần phải giải thích lý thuyết của Seth Jacobs.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Jacobs tin rằng tôn giáo đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam hơn là người ta thường nghĩ cho đến ngày nay. Á Châu đã được các nhà hoạch định chính sách ở Captitol Hill nhận thức là khu vực đã bị kiểm soát bởi những kẻ Vô thần, Cộng sản từ mệnh lệnh của thủ-phủ vô-thần Mốt-cao (Moscow).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cộng thêm vào, bản thân người Á châu qua biểu kiến là những người thụ động, dễ dàng uốn nắn, và đa số gắn chặt với một tôn giáo –Phật Giáo, vốn khuyến khích tinh thần tiêu cực như vậy. Chính vì vậy, đối với họ, chỉ có những nhà lãnh đạo Phật Giáo thì không đủ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tín đồ Ki-tô, với sự kiên quyết đối đầu với vô thần dưới mọi dạng thức, do đó chỉ có những cá nhân này mới có đủ khả năng để dẫn dắt những người dân hiền lành này chống cự lại với ma quỷ từ phương bắc.&lt;br /&gt;Để hổ trợ cho phân tích này, tức là chống lại quan điểm Mác-xít cho rằng mọi động lực xã hội đều xuất phát từ kinh tế, Jacobs tìm hiểu sự trao đổi ngoại giao giữa các nhà chính khách Mỹ của thập niên 1950 và các đại biểu của họ ở Đông Nam Á châu.  Ông còn dựa trên các sách vở căn yếu đã tạo hình nên quan điểm công chúng Mỹ về khu vực trong thời kỳ đó. Tất cả các nguồn này đều nhấn mạnh đến khía cạnh tôn giáo trong sự tranh chấp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đó là quan điểm đơn thuần nghiên cứu mang tính kinh viện nhưng nó lại không hòan toàn khác biệt với hoàn cảnh ngày nay. Trong năm 2005, một lần nữa chúng ta lại thấy sự hiện diện nặng nề của Mỹ ở vùng đất xa xôi với lý do can thiệp đặt nặng trên vấn đề tôn giáo. Bush, Cheney và cả Rumsfeld đều đề cập đến quan điểm trong kinh thánh về trận chiến hoàn vũ mà họ đang can dự.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trục Ma-qủy (Axis of Evil) chính là thừa kế của Đế quốc Ma (Evil’s Empire) quỷ dưới thời Reagan đã một dạo từng đưa tôn giáo ra chiến trường, thêm vào đó là một chuỗi sách vở được tạo nếp suy nghĩ cho chính quyền Hoa Kỳ.&lt;br /&gt;Sự đồng dạng không chỉ ngừng ngang đó, Trong cuộc chiến Việt Nam, đồng minh trong sự “tự nguyện”, được thiết đặt lại lần nữa --Úc, Tân Tây Lan và chừng một tá quốc gia khác đang trở thành sự che đậy quốc tế cho sự can thiệp của Mỹ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một  cuộc thập tự chiến chống-vô-thần đã được tuyên xưng –một từ ngữ đã từng được dùng trong những ngày qua –và toàn thể dự án được biểu hiện dưới lá cờ “nô lệ đối nghịch với tự do”. Song hành với ngày hôm nay, nói cách khác là, sự phù hợp đáng kinh sợ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ban đầu cuốn sách tập hợp được quan niệm chung của người Mỹ để hỗ trợ cho hành động ở Đông Nam Á với, Xin cứu chúng tôi ra khỏi sự dữ (hay “ma quỷ”)  (Deliver Us from Evil) của Tom Dooley, được Jacobs coi như là một “đòn tuyên truyền thật thông minh cho Chiến Tranh Lạnh, trong đó kẻ thù cộng sản được coi như là ma quỷ, Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam là hiện thân của đức lý.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dooley là một y sĩ, kẻ đã chứng kiến “Con đường đi tìm Tự do” của làn sóng người tị nạn từ miền Bắc Việt Nam bị kềm kẹp dưới chế độ Cộng sản di cư vào Nam trong các năm 1954 và 1955.  Kể lại những câu chuyện hung bạo là nét đặc biệt của ông, đáng kể nhất là các tu sĩ Công Giáo với những chiếc đinh đóng vào sọ đầu bắt chước như vòng gai của Chúa Giê-su. Những vết thương mưng mủ của các người Việt tị nạn, mặc dù đã được diễn tả sinh động, càng làm ra vẻ cho ghê gớm thêm lên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Xin cứu chúng tôi ra khỏi sự dữ" được Jacobs mô tả là mang “tính kỳ thị, thiếu sự tinh tế, nhận thức khô khan so với tính phức hợp của lịch sử và chính trị Việt Nam.” Thế mà, những kẻ quyền lực ở Hoa Thịnh Đốn đều đọc nó, và xem chừng một số lượng rộng rãi công chúng Mỹ cũng đọc nó luôn.&lt;br /&gt;Sự thật thì Dooley là một anh chàng đồng tính luyến ái, bị sa thải ra khỏi quân đội vì lý do kỹ luật, dù vậy ông không bị mối nhục với công chúng vì được che đậy, chỉ đề cập qua loa, rồi bưng bít luôn. Dooley đã trở thành một kẻ quá hữu dụng cho công cụ tuyên truyền để những sự thật nói trên được phép công khai hóa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuốn tiểu thuyết "Người Mỹ trầm lặng" (The Quiet American) của Graham Greene là sự kiện hoàn toàn trái ngược. Được đánh giá cao ở Âu Châu, nó lại bị báo chí Mỹ chỉ trích. Còn gì hơn nữa, khi cuốn sách được làm phim và chiếm giải Oscar với đạo diễn Joseph Mankiewiccz, toàn bộ cuốn sách đã bị đảo ngược, và người Mỹ bị chế nhạo là Pyle, trở thành một kẻ anh hùng còn trắng-hơn-người-da-trắng nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thái độ tương phản giữa người Âu và người Mỹ còn biểu thị song song với các biến cố mới đây nữa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một đề tài khác trong kỷ nguyên này ở Mỹ là người ta sợ Mỹ quá mềm mỏng để đối đầu với làn sóng Đỏ. Cuốn sách đáng thuyết phục nhất cho tinh thần đó là, Người Mỹ xấu xí (The Ugly American) của Lederer và Burdick, cũng đã được tác giả phân tích rộng trong cuốn sách này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính trị Việt Nam, luôn luôn là sự phức tạp như các kẻ đã can dự vào hai phía bắc và nam, chẳng hạn có đến bốn tôn giáo khác biệt, cũng như thái độ khác biệt giữa người Pháp và Mỹ (là hai kẻ ở ngoài đến hành hạ khu vực này), đồng thời được diễn tả ở đây một cách sáng sủa khác thường. Đó là lối văn mang tính sâu sắc đặc biệt và đầy thuyết phục của Jacobs, trong khi ở vài chỗ thì vượt quá những điều rối rắm của hoàn cảnh cụ thể.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Và, Việt Nam là nơi chốn đầy tính phức hợp. Trong Thế Chiến II, chẳng hạn, Mỹ từng hỗ trợ cho Hồ Chí Minh, cũng giống như sau này họ hỗ trợ Saddam Hussein ở Iraq. Lần này chỉ vì Hồ đang chống lại Nhật, kẻ đuợc phép đóng quân ở Việt Nam vì chính phủ thân-Quốc-Xã của Vichy Pháp.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lần nữa, Ngô Đình Diệm phải chiến đấu chống lại nhiều đối thủ, kể cả Cộng sản, hầu mong nhận được sự hỗ trợ của Mỹ.&lt;br /&gt;Rồi ông ta bị ám sát vào tháng 11, 1963 trong vùng Chợ Lớn của Trung Hoa ở Sài Gòn dưới nanh vuốt của nhóm tướng lãnh âm mưu. Sự cai trị của ông ta được coi là tàn bạo, thay vì biệt danh là anh hùng được ban phát từ Hoa Thịnh Đốn –là “người mang phép lạ của Á châu”, hay “Churchill của Châu Á” và vân vân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cũng như Tưởng Giới Thạch, cuốn sách này mang lại nhiều điểm thú vị để biết vì sao ông ta trở nên thân thiết trong trái tim của những người Mỹ, và thí dụ tại sao, ông ta đã xuất hiện đến 10 lần ngoài trang bìa của báo Time, nhiều hơn bất cứ một nhân vật nào khác.&lt;br /&gt;Đây là cuốn sách hay. Tác giả nói rằng, nghiên cứu về lý do Mỹ đã can dự như thế nào ở Việt Nam trở thành một thứ “kỹ nghệ học thuật rẻ tiền” (a virtual academic cottage industry (?), nhưng dù vậy, ông vẫn tiến hành vì ông tin tưởng từ một góc nhìn mới sẽ tạo ra nhiều-thảo-luận và nhiều-tranh-luận hơn.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chẳng hạn như các gương mặt của Tổng thống Eisenhower và John Foster Dulles được mang ra bằng những phân tích mới, phần lớn cuốn sách đề cập quan điểm tôn giáo đuợc họ dùng như quan điểm của chính sách ngoại giao.&lt;br /&gt;Kết luận không thể tránh được mà quý vị có sau khi đọc thì đây là cuốn sách rất thú vị để thấy rằng trong khi thế giới đã có rất nhiều điều thay đổi, thì một vài điều chẳng hề đổi thay chút nào cả.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lời kết của tôi:  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Do Thái là một chủng tộc độc đáo nhất thế giới. Qua chiều dài lịch sử, họ đã chịu nhiều sự đau khổ, chà đạp của chủng tộc khác. Thế mà họ cứ vươn lên không chịu cúi đầu cam chịu số phận. Ngày nay, cái gì đứng vào hàng đầu thế giới cũng có thể là người Do Thái: giàu có, đại tư bản, những khoa học gia sáng chế bom nguyên tử nhưng cũng có những nhà từ thiện lừng danh. Có những Do Thái chống cộng nhưng cũng có những tay tổ cộng sản thế giới xuất thân là Do Thái.  Trong chiến tranh Việt Nam hẳn nhiên là có rất nhiều nhân vật Do Thái ủng hộ chế độ Hà Nội, và có nhiều nhà bình luận chính trị đã từng chứng minh chính Do Thái đã bán đứng miền Nam Việt Nam. Cho nên, chúng ta không cần thắc mắc tại sao có một giáo sư sử học danh tiếng như Seth Jacobs, dù không công khai bênh vực chế độ Hà Nội, nhưng hệ luận lịch sử mà ông đưa ra dù được chứng thực bằng chiều dài thời gian, xem chừng ông “không có cảm tình” với các chế độ ở miền Nam Việt Nam. Không phải vì Seth Jacobs đứng trên quan điểm “vô thần” hay tự-do-không-tôn-giáo, nhưng từ lý do tiềm tàng sâu xa khác… Tối hôm qua, trước khi ngồi vào bàn để kiểm soát lại những sai sót của bài viết này, tôi được xem chương trình “hài hước” do Bill Maher điều khiển mà tôi rất ngưỡng mộ.  Sau khi mở đầu những lời “cò mồi” cho ba vị khách (một bà hai ông) được mời tham dự chương trình –lần này chĩa mũi dùi vào chính sách chiến tranh của Tổng thống Bush ở Iraq, có một nhân vật (xin lỗi tôi đã quên tên) nộ khí xung thiên mở đầu tấn công Đảng Cộng Hòa bằng những câu nói thẳng thừng như sau: “Bọn Cộng Hòa là một lũ lưu manh. Cứ xem anh chàng Thượng Nghị Sĩ John McCain thì biết. Y là một kẻ từng bị nếm mùi tra tấn trong 5 năm ở nhà tù (Hỏa Lò của Bác Hồ! –nvh), thế mà giờ đây y lại bỏ phiếu thuận cho tên Karl Rove (lại cũng là Do Thái –neocon !) cố vấn cho Rumsfeld cho phép Mỹ tự do tra tấn tù nhân ở Iraq và Guantanamo, Cuba. Republicans? Dick, Rumsfeld, Bush? -They’re shit cowards!”.  Vậy, chúng ta chẳng ngạc nhiên khi có “mấy cái đầu” Do Thái khuyến khích Tổng thống Bush đi Hà Nội dự Hội Nghị APEC trong tháng 11 tới đây; chẳng phải vì Do Thái thương yêu chế độ Bắc Việt, nhưng Do Thái đang mất ăn mất ngủ chỉ vì anh Ba-Lý-tài đang thu về một số tiền khổng lồ bán vũ khí cho các khối Ả Rập, Palestine, trong đó có thể có những thứ mà một anh trong ‘Axis-of-Evil’ là Bắc Hàn thủ đắc. Dĩ nhiên, lịch sử có rất nhiều điều vẫn không hề thay đổi!. (viết thêm 31.10.06)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Văn Hóa &lt;br /&gt;Chiều thứ Bảy 28.10.2006 &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chú thích:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[i] -How America Came to Back South Vietnam’s Depised and Doomed President by Sethh Jacobs –nguồn:&lt;br /&gt;http://bcm.bc.edu/issues/spring_2005/features.html  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[ii] (“In this world Revolution, Europe advocates mutual aid to underdeveloped countries, It is an attitude. The other European attitude of colonialism is the communist attitude. Because Europe ie the place which gives birth to the theory of individualism. Individualism gives birth to 2 twins: one is called Colonialism and the other Communism.”) &lt;br /&gt;Why We Must Defend The Existing Regime, Ngô Đình Nhu thuyết trình tại Phòng Tiếp tân Bộ Thông Tin và Thanh Niên ngày 15/11/1957 | Tài liệu của Cơ quan RAND, bản dịch sang tiếng Anh từ băng thu giọng nói của ông Nhu. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[iii] (“All our brothers in Asia and Africa are looking for a third way out, but not a third force, unlike Europe and Communism. How this way out can be paved, by what method, according to what norms? That is the problem can be raised, and in solving it we cannot imitate anybody, because if we want to develop a new policy, we must naturally have new methods, and to have new methods we must make effort in the cultural field. Thus, the problem of antional construction, of building democracy in Asia become a cultural problem.”)  --dẫn như trên-- &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[iv] Những cụm chữ đặt trong ngoặc [ ] là chú thích riêng của người dịch (do một nhóm dịch, không thấy đề tên người dịch) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[v] (“People in all other Buddhist countries explian the theory of Compassion. But if we use Nhân Vị to measure Tu Bi, very often /we find that/ Từ Bi is an opportunity for exploiting the mind /inclination/ of the people who make charity and forget to do justice. Justice must go ahead of Từ Bi, Từ Bi must begin with justice first. With justice in society, we realize that we worry over taking from Buddhism the conception of Từ Bi, bút that Từ Bi if conceived according to our Nhân Vị is what? It meant that we must have justice first, and Từ Bi next; it does not require that we give people things, once a month and then com home satisfied with our Từ Bi, with no regard to who is dead in our own house, That is a mistake. Từ Bi exists because the foudation of justice exists.”   --dẫn như  trên (3)-- &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[vi] How America Came to Back South Vietnam’s Depised and Doomed President by Sethh Jacobs –nguồn:&lt;br /&gt;http://bcm.bc.edu/issues/spring_2005/features.html&lt;br /&gt;(dẫn từ paragraph 2, page 2 đến… end of paragraph 3, page 3) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[vii] Religion kept US married to Vietnam conflict, by Bradley Winterton, báo The Taipei Times số Sunday, Mar 06, 2005, trang 18. Nguồn từ mạng taipeitimes.com:&lt;br /&gt;http://www.taipeitimes.com/News/feat/archives/2005/03/06/2003225763&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(**) Theo nhà biên khảo sử Trần Đông Phong, Tưởng Giới Thạch không phải là người của Quốc Dân Đảng. Ông ta ở trong tổ chức “đen” có tên Nam Y –một tổ chức Mafia kiểu Tàu!  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;© copyright giaodiem.us | 2006&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-834376985713953597?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='related' href='http://giaodiem.us/' title='Bàn về quan điểm lịch sử mới của Seth Jacobs'/><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/834376985713953597/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=834376985713953597' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/834376985713953597'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/834376985713953597'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/ban-ve-quan-iem-lich-su-moi-cua-seth.html' title='Bàn về quan điểm lịch sử mới của Seth Jacobs'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-2631775759715171011</id><published>2010-01-25T10:27:00.000-08:00</published><updated>2010-01-25T10:32:14.486-08:00</updated><title type='text'>Bàn Về Mấy “Sơ Xảo Tính” Trong Cuốn “Tự Do Và Đạo Lý”</title><content type='html'>Vài lời xin thưa với tác giả, quý độc giả và các bậc trí giả:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Bài này được viết cách nay đã 15 năm rồi (1994), nhân sau một buổi chiều đi nghe ra mắt sách ‘Tự Do và Đạo Lý’ của tác giả Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose. Vào thời gian ấy, tôi đang sống ở căn nhà lụp xụp, lạnh lẽo trên một ngọn đồi ‘gió hú’ –gió lồng lộng quanh năm, bên kia là vịnh Rodeo, bên này là vùng San Pablo (phía đông bắc thành phố San Francisco). Vì tò mò, tôi phải lái xe hơn một tiếng về San Jose để được tham dự buổi ra mắt sách hôm ấy. &lt;br /&gt;Bài viết sau đó được đồng đăng trên các tuần báo Chánh Đạo của ông Ngô Văn Bằng, và nhật báo Thời Báo của ông Vũ Bình Nghi (cả hai đều phát hành ở San Jose).  Rất tiếc sau đó, tôi không nhận được ‘phản hồi’ từ tác giả để có dịp học hỏi thêm.&lt;br /&gt;Vào giữa năm 2005, luật sư Nguyễn Tâm ở San Jose, nhằm trong dịp ‘chỉ trích’ tác giả Nguyễn hữu Liêm về những hoạt động “phục vụ cho chế độ Hà Nội”, Nguyễn Tâm gửi email đề nghị xin tôi được đăng lại bài viết này trên Nhật báo (và website) Saigon-USA của ông; tuy nhiên, tôi đã xin lỗi và tế nhị ‘từ chối’ vì nghĩ rằng bài viết đã quá lâu. &lt;br /&gt;Thời gian qua mau, thế rồi vào giữa trung tuần tháng 4/2009 vừa qua, lúc ấy tôi đang còn ở khu mobilehome Balihi ở Santa Ana –đang ngủ trưa bỗng giật mình vì chuông điện thoại reo. Đầu giây nói bên kia là ông Thân Trọng Mẫn mời tôi ra quán cà phê (tôi quên tên) gần bên nhà hàng Royal của Santa Ana, nói là có hai vợ chồng ông Nguyễn Hữu Liêm và nhà sư Đỗ Thuận Khiêm mời uống cà phê và đang ngồi chờ. Thật lòng, tôi không muốn đi, lại nhớ tới cuộc hẹn sẽ đi nghe ông Mai Thanh Truyết thuyết trình đề tài gì đó về ‘họa Trung quốc’ ở chùa Điều Ngự. Nhưng, sau một thoáng ‘chợt nghĩ xa’, tôi quyết định và vội vã thay quần áo đi ra chỗ hẹn. Tôi vội vã đến độ (xin lỗi quý vị) vì đúng vào lúc ấy mắc đi cầu mà phải chùi đít qua quýt rồi chạy ra xe vì sợ trể nãi cả hai chuyện trong buổi chiều. Gặp lại một số người quen cũ như hai vợ chồng ông Liêm, ông Mẫn, ông Hùng…và một số người quen mới (nghe giới thiệu là có vài anh chị đang làm tạp chí về Thơ, và mạng lưới ‘da mầu’). Không khí tẻ nhạt, vài câu chuyện nhạt nhẽo, thi thoảng có vài câu nói 'ba trợn' của sư Thuận Khiêm chen vào –nhưng vì lịch sự, tôi cố ngồi nán lại. Trước khi tôi chuẩn bị lên tiếng sắp từ giã, Nguyễn Hữu Liêm quay qua tôi, đề nghị “Ông H. nổi lên làm loạn đi ông!” Tôi chưa kịp nghĩ ra hết ý nghĩa của chữ “làm loạn” theo miệng ông Liêm, nhưng vẫn nhanh miệng trả lời, “Có chứ, nhưng tôi cần về nhà ngủ thêm một giấc cho tỉnh táo, rồi mới có thể làm loạn được.”  Mọi người ngồi quanh bật cười. Nói vừa dứt câu, tôi đứng lên từ giã mọi người, ra về. Dù vậy, tôi tiếc vì ngồi càphê quá thời gian dự định đã trể giờ đi nghe buổi thuyết trình của Mai Thanh Truyết mất rồi.&lt;br /&gt;Bây giờ tôi đang trở về chốn cũ ở San Jose, lục tìm lại được bài viết cũ, mừng quá ngồi đánh máy lại bài viết (bản thảo cũ ngày trước, tôi đánh trên bàn máy chữ không có dấu) để nhanh chóng post lên mạng Hội Tụ như một lời đáp từ “làm loạn” của ông Liêm cho thêm phần vui nhộn trong những ngày vào thu.&lt;br /&gt;Trong bản đánh computer lần này - dù đã cách 15 năm, nên ngoài một vài sửa chữa nhỏ về chính tả - thêm vài chữ mới, nội dung bảo đảm tôn trọng giữ đúng như bản cũ đã gởi cho các  báo Chánh Đạo và Thời Báo năm 1994.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;Tuesday, September 29, 2009&lt;br /&gt;_________________________________________________________________________ &lt;br /&gt; Bàn Về Mấy “Sơ Xảo Tính” Trong Cuốn “Tự Do Và Đạo Lý” của tác giả Nguyễn Hữu Liêm  (Nhà xuất bản Biển Mới, ấn bản 1993)  Nhân Một Buổi Ra Mắt Sách&lt;br /&gt;      Nguyễn Văn Hóa &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Sơ-Xảo-Tính qua không gian buổi ra mắt sách: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     2 giờ chiều chủ nhật 21/8/1994, Ban tổ chức của Trường Phật Học Lý Trần đã tổ chức phối hợp ra mắt sách triết học của Phạm Công Thiện (giáo sư, tác giả nhiều sách Triết) và của tác giả Nguyễn Hữu Liêm (luật sư).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Về quá trình sáng tác triết học của Phạm Công Thiện thì không ai xa lạ gì, cho nên đã thúc đẩy trên ba mươi tham dự tại quán cà-phê Sao Đêm thành phố San Jose, trong đó có tôi. Người tổ chức (tiến sĩ Lý Khôi Việt *) trong phần mở đầu giới thiệu tác phẩm “Triết Học Phật Giáo” của Phạm Công Thiện, đã dùng danh từ quá ‘đao to búa lớn’ như…Phạm Công Thiện là một đại triết gia rất có thẩm quyền về triết Tây và triết Đông. Trong lời phát biểu sau đó, ông Phạm Công Thiện đã phủ nhận lối tâng bốc không cần thiết nầy. Lẽ ra, với sự thúc giục của người tổ chức, ông Phạm Công Thiện phải ‘thao thao bất tuyệt’ về Triết học phương Đông; nhưng ngược lại, ông chỉ đề cập vắn tắt về một câu thần chú của Mật Tông Tây Tạng: Um Mani Bát Mê Hồng!. Tiếp theo sau đó, ông trình bày 21 bước tu chứng theo phương pháp của Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng. Ông Phạm Công Thiện đã diễn giải các vấn đề nầy thro lối thông thường, dễ hiểu. Có lẽ đó là chủ ý của ông, vì không gian của buổi ra mắt sách không phải là nơi để giảng dạy hay tranh luận triết học.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Sau phần trình bày của Phạm Công Thiện, ông Vũ thế Ngọc (học giả?) phụ chú thêm về kinh nghiệm bản thân câu thần chú Mật Tông trên. Ông kể trong một buổi đi du sát ngoài biển Santa Barbara, ông và một số sinh viên khác sau một hồi đọc câu thần chú trên đã chứng kiến một đàn cá voi tìm đến và bơi chung quanh chiếc thuyền của họ. Ông Ngọc lý giải: Khi mọi người xướng lên câu thần chú “Um….” Đã tạo ra một làn sóng siêu âm (ultrasound waves) đã triệu tập được đàn cá voi tìm đến. Ở đây ông Vũ thế Ngọc đã dẫm chân vào lãnh vực kỹ thuật điện tử mà có lẽ ông mơ hồ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Giọng nói, xướng âm, hát của một người dù có cường độ âm thanh (decibel level) nào đó - ở một mức quá nhỏ, không thể nào tạo ra một làn sóng siêu âm được. Muốn tạo được một làn sóng ‘siêu âm’, phải cần có một dụng cụ điện tử đặc biệt phát ra một cường độ mạnh tới hàng triệu decibel. Kỹ thuật để tạo ra ‘Ultrasound’ là kỹ thuật ‘hợp lực, cô kết’ cường độ âm thanh hội tụ thành một ‘tụ điểm’ âm thanh mạnh nhất.  Nó tương tự như kỹ thuật ‘Ultra-violet lights’ trong tia sáng laser. Âm độ của giọng xướng câu chú không thể nào tạo ra Ultrasound được (dù cho trên tàu tập hợp cả hàng trăm người.) Người ta có thể tin nghiệm chứng của ông Ngọc là có thật –nhưng ở đây, có thể ông đã lầm giữa cá Voi và cá Heo. Ở đầu con cá Heo vốn có một bộ phận tiếp âm (antenna) có thể bắt được những âm thanh với cường độ decibel nhỏ như tiếng huýt gió, chẳng hạn.  Nhưng, muốn đàn cá Heo thuần thục với âm thanh này để tìm đến điểm xuất phát, phải có sự luyện tập lâu dài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Đó chỉ là chuyện nhỏ, vấn đề đặt ra ở đây là ông Vũ thế Ngọc đã làm lệch lạc ý nghĩa của câu thần chú, và với nội dung ông Phạm công Thiện trình bày.  Xướng câu chú “Um….” chỉ là một phương pháp tu Thiền, câu chú chỉ là phương tiện giúp người “tu thiền” bước ra khỏi thực tại trong một không-thời-gian nào đó –trở về với trạng thái ‘Không’. Nói gọn là “thoát ra” (nội-ngoại-tại), giữ tâm tĩnh lặng. Đề cập về tính-khoa-học của câu thần chú ấy ở đây đã trở nên lạc điệu…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Người tới tham dự bắt đầu cảm nhận ‘hơi hướm’ của sự lố bịch… Và, sự lố bịch đã kéo dài ra, mở rộng thêm sau khi ‘người tổ chức’ đã tự ý so sánh: Nếu ‘Phạm công Thiện là đại triết-gia Đông phương’ thì ông ‘Nguyễn hữu Liêm là đại triết-gia Tây phương có thẩm quyền’ (qua tác phẩm “Tự Do và Đạo Lý”.)  ‘Người tổ chức’ có vẻ như muốn tạo ra sự kích động nhằm lôi kéo sự tranh luận giữa ‘hai đại triết-gia’ này. Song, ông Phạm công Thiện vốn là kẻ lão luyện, từng trãi trong giới giang hồ văn nghệ đã chủ động được hoàn cảnh để tự tuyên bố chấm dứt buổi ra mắt sách đúng lúc, sau khi đưa ra vài ý kiến trịch thượng của một ‘bậc Thầy’ sau phần phát biểu và nêu vấn đề “Triết lý đi về đâu” (?) của ông Nguyễn hữu Liêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     ‘Người tổ chức’, sau rốt đã tạo thêm một sự lố bịch khủng khiếp (khác) khi cho rằng cuốn sách “Tự Do và Đạo Lý” chỉ dành cho trình độ của các tiến sĩ triết học, tiến sĩ luật học…đọc. Tôi xin miễn phê phán về lói phát biểu này, để dành cho quý thính giả tham dự. Đến đây, các người tham dự đã nhận thức được rằng –sự có mặt của ông Phạm công Thiện cũng như cuốn sách góp mặt của ông chỉ là ‘công cụ, bàn đạp’ nhằm đề cao tuyệt đối luật sư Nguyễn hữu Liêm và cuốn sách (Tự Do và Đạo Lý) của ông mà thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Nêu ra các yếu tố lố bịch trên để xác định động cơ tôi viết bài này.&lt;br /&gt;     Về cuốn sách của ông Phạm công Thiện, tôi xin khất lại vào dịp khác. Ở đây, tôi chỉ bàn về cuốn sách “Tự Do và Đạo Lý” mà tôi gọi là ‘những sơ-xảo-tính’, thể hiện qua cách ra mắt sách là “sơ-xảo-tính” thứ nhất. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Sơ-xảo-tính trong lối khai mở khái niệm triết học của “Tự Do và Đạo Lý”: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Ai cũng biết, Đức ngữ là ngôn ngữ của ‘triết’, vì Đức quốc là quốc gia sản sinh nhiều nhà triết học lừng danh nhất.  Ngôn ngữ -tự nó không phải là ngôn-ngữ-mang-tính-triết-học hay không. Triết gia mới là chủ thể sáng tạo, khai mở, phong phú hóa khái niệm triết học qua phương tiện ngôn ngữ.  Phương tiện như chiếc đò qua sông. Phương tiện không phải là xác tín để đạt tới chân lý  (Chân lý ở đây được hiểu như là ‘Ý nghĩa của triết học’).&lt;br /&gt;      Lão Tử nói : “Đa ngôn số cùng, bất như thử trung”&lt;br /&gt;     Theo ý này, Lão Tử coi ‘lời nói’ chỉ là một phương tiện trong muôn ngàn phương tiện.  Cho nên nói ít thôi, hoặc nhiều khi không nói (là một cách nói khác) mà vẫn đạt tới chân lý.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong Cổ Học tinh hoa, có nói: “Máy móc tức là cơ giới. Kẻ có máy móc tức có cơ giới. Kẻ có cơ giới tức có cơ trị. Kẻ có cơ trị tức có cơ Tâm. Ta đây không phải không biết máy ấy, chỉ vì xấu hổ không dùng mà thôi.”   Cho nên, trong tinh thần Đông phương –từ chối một phương tiện, có khi là sự lựa chọn của bậc minh triết.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Có lẽ do một nô-lệ-tính thường tình, tác giả Nguyễn hữu Liêm đã coi Đức ngữ như một phương tiện thời thượng, xác tín cho trình độ nghiên cứu triết học của mình, nên tác giả đã dùng Đức ngữ để trình bày tư tưởng của Hegel, trong khi tác giả lại sở trường và xuất thân từ môi trường giáo dục Anh ngữ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trích dịch về lời mở đầu của Hegel trong Rechtsphilosophie (“Philosophy of Right”), tác giả viết:  “Cái gì đứng ở giữa trí năng như là một năng lực ý thức của Đạo lý đối với trí năng như là hiện hữu thực tại, cái gì phân biệt giữa hai phạm trù trên là choàng giây xích của thể tính trừu tượng hay cái gì khác vốn chưa được thoát ly ra khỏi chính nó để trở thành khái niệm..”  Nguyên văn mà tác giả đã ‘trích dịch’ :  Was zwichen der Vernunft als selbstbewufften Geist und der vernunft von dieser scheidet und in ihr nich die Befriedigung finden lafft, ist die Fessel irgend eines Abstraktums, das nicht zum Birgriffe befreit ist..”    Tôi không đọc được tiếng Đức nhưng vẫn phải lập lại ở đây để người đọc nắm đươc ý nguyên nghĩa.  Thực ra, Rechtspjilosophie đã được nhiều nhà nghiên cứu triết học Mỹ dịch ra Anh ngữ.  Tôi xin đơn cử đoạn văn trên đã được T.M. Konox trong “The Philosophy of Right” (nhà xuất bản Oxford University Press – được The Great Western Books in lại năm 1953) dịch như sau:   “What lies between reason as self-sonscious mind and reason as an actual world before our eyes, what separates the former from the latter and prevents it from finding satisfactrion in the latter, is the fetter of some abstraction or other which has not been liberated [and so transformed] into the concept..”   Hiểu một cách dễ hiểu là, “Cái gì nằm giữa trí-năng-như-là-tự-thức và trí-năng-như-là thế-giới-thực-tại trước mắt chúng ta, cái gì phân chia giữa hai trí năng trên, hay ngăn trở nó từ sự tìm kiếm biện giãi trí năng-như-là-thế-giới-thực-tại, chính là sợi xích trói buộc của thế giới trừu tượng hay cái gì khác đi nữa.  Điều đó vẫn chưa thoát [hay chuyển hóa] được để trở thành khái niệm..”  Trí năng như là thế-giới-thực-tại –theo Hegel, là một Hiện Hữu Tuyệt Đối  (Nhà nước hay pháp quyền, chẳng hạn là một hiện-hữu-tuyệt-đối.) Cái gì của thực tại hiện hữu đều có lý. Đã có lý tất phải có khái niệm. Đây không phải là ‘tiền đề của vấn nạn tư tưởng quan trọng’ trong logic Hegel  (theo tác giả Nguyễn hữu Liêm.)   Suy tưởng này chỉ là diễn giải cho tiền đề “Cái gì hữu lý là thực tại, cái gì thự tại thì hữu lý’  (What is rational is actual, what is actual is rational).  Lý luận này nhằm biện giải cho sự khai mở các khái niệm triết học về Pháp lý, và theo Hegel, để hiểu “cái gì” (what is), chính là nhiệm vụ của triết học  (tôi nhấn mạnh!).  Nhưng, rất khiêm tốn –trong phần mở đề của “Phylosophy of Right”, Hegel nói rằng: “Cuốn sách này chỉ là bao gồm khoa học về nhà nước, chẳng có gì khác hơn là sự cố sức để nhận thức và mô tả rằng nhà nước là cái thuộc về lý trí cố hữu..”  (*)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Tác giả Nguyễn hữu Liêm đã diễn giải “trí năng như là một năng lực của ý thức Đạo lý”  (‘reason as self-conscious mind’) là đi quá xa và áp đặt một phạm trù ‘khác’ vào suy tưởng của Hegel, có lẽ vì tác giả hiểu “conscious” là ‘Đạo Lý’. Mặt khác, hiểu  “What separates the former from the latter” như “hai phạm trù” là hiểu lệch khái niệm của Hegel.  Bởi, đã là phạm trù (khái niệm triết học: “Category’) là đã có sự phân chia!.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Mặc dầu chỉ là phần mở đầu của Chương Một, nhưng chúng ta có thể tìm gặp tác giả đã cố gắng một cách méo mó để phối hợp ‘ý niệm Tự Do’ (Hegel) và ‘Đạo Lý’ (Lão Tử), là bản chất của cuốn sách từ đầu tới cuối.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong phần ‘Phụ chú’ (trang 668), tác giả Nguyễn hữu Liêm cho rằng “một số nhỏ trí thức Việt Nam ở Pháp và Hoa Kỳ chỉ trích Hegel dựa theo luận điệu của Schopenhauer hay Popper vốn chỉ được trích dẫn từ các nguồn tài liệu phổ thông (‘secondary sources’). Ý tác giả nói họ không đọc nỗi từ nguyên bản (hoặc chỉ biết phê bình qua sự phê bình của người khác). Chỗ khác, tác giả cho rằng nói đến triết học Hegel bằng “tam thể luận”  (‘triad’) là chưa hề đọc Hegel, chỉ khoe cái dốt của mình (NH. Liêm mượcn lời của Allan W. Wood, trang 668).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Dĩ nhiên, khi nghiên cứu về Hegel, người ta không chỉ đọc “Philosophy of Right”, “Philosophy of History”.  Tác phẩm quan trọng đầu tiên của Hegel là “Hiện Tượng Luận Về Tinh Thần” (The Phenomenology of Spririt, 1807) –ông đã trình bày một cách chặt chẻ về lý luận biện chứng –‘Mâu thuẫn là động cơ của tư tưởng’  (La Contradiction est le moteur de la Penseé).  Tư tưởng không là một dạng tĩnh, mà được tạo dựng bởi mâu thuẫn theo trật tự ‘tiền đề, phản đề và tổng hợp đề’. Ở đây, tôi không muốn đi sâu vào vấn đề này, chỉ nêu ra như một trưng dẫn để nhắc nhở tác giả -muốn hiểu Hegel không thể không bước qua ‘Syllogism’ trong “Hiện Tượng Luận Về Tinh Thần”.  Sự lòe bịp về tri thức và tự cho mình là một trong số ít người hiểu Hegel rốt ráo nhất, tôi gọi đó là “sơ-xảo-tính” thứ hai của “Tự Do và Đạo Lý”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Sơ-xảo-tính trong lối áp đặt từ ngữ triết học: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Như tôi đã đề cập ở trên, ngôn ngữ chỉ là phương tiện để diễn đạt về ý niệm triết học và là phương-tiện-có-giới-hạn. Nếu lý trí là một hiện hữu thường hằng, thì lý trí có trước ngôn ngữ, và triết học chỉ xuất hiện khi lý trí đã được hệ thống hóa qua ngôn ngữ.  ‘Sơ-tính’  (simplicity) của lý trí là nguyên ngôn –logos, nền tảng khải đạo của triết học Tây phương. Hegel là người đầu tiên đã đào sâu quá trình lý tính nội tại (nguyên ngôn của lịch sử triết học), nhưng ông không phải là người duy nhất.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Từ ngữ -tự nó không mang một ý nghĩa triết học, nếu nó là một áp đặt đi ra ngoài trí năng. Trong “Tự Do và Đạo Lý”, chúng ta bắt gặp đầu những áp đặt như vậy. Thí dụ, chữ “tính”.  ‘Tính’ trong triết học mang một tính chất của ý niệm phổ quát. Không phải trong mọi trường hợp, sử dụng ‘tính’ là có thể biến thái khái niệm danh từ trở thành triết-ngữ.  Thí dụ (ở trang 41), tác giả dùng đến 8 (tám) lần chữ ‘tính’ cho mỗi khái niệm như: ‘trừu tượng tính, đại thể tính, thường-bất-biến-tính, v.v… thực chất là sự phô trương về lối hành văn triết học. Triết lý là một nghệ thuật về cách đặt vấn đề, suy diễn và giải quyết vấn đề để chinh phục đối tượng khách thể, chứ không phải là làm cho nó khó hiểu. Trong khoảng hơn 600 trang sách, tác giả đã sử dụng hàng ngàn chữ ‘tính’ làm tiếp-hậu-từ, và lập đi lập lại các từ ngữ như: ‘năng động’ và ‘năng thức’ một cách rất vô nghĩa. Tôi thí dụ: “Từ năng thức của ý niệm tự do, ý lực bản ngã đi từ thường hằng, vô biệt, từ đại ngã chuyển hóa qua tiểu ngã thường phân…” (trang 40). Những ai chưa đọc nguyên bản “Philosophy of Right” trong Phần Một –Abstract Right, sẽ không hiểu tác giả muốn nói cái gì, mặc dầu đó chỉ là những khái niệm rất đơn sơ!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Về chữ “moment”, tác giả NHL đã dịch khi thì “thời quán” (đa số trường hợp, nhưng có khi dịch là “thời tính”). Thật ra, dùng “thời tính” chính xác hơn, nhưng có lẽ vì không muốn ‘mang tiếng’ là dùng từ ‘từ gốc’ của Hegel, nên muốn nói khác đi. Song, nếu tác giả dịch ‘moment’ là “thường quán”, sẽ làm người đọc hiểu lầm là tác giả muốn nói về khái niệm “moment of inertia”. Tôi xin nêu ra thí dụ: “Đối với cá thể thì cả hai phạm trù ý thức ( Đạo lý và Vị kỷ) cũng chỉ là thời quán mang bản chất trừu tượng”  (trang 43). Về khái niệm “Universality”, tác giả đã dùng khi thì “nguyên thể tính, đại thể tính, thường-bất-biến-tính”  (trang 197), có khi trở thành “nguyên thể khách quan” (trang 199).   Có thể vì giới hạn của ngôn ngữ Việt trên mặt lý luận, nên mỗi trường hợp, người ta dịch một cách khác nhau. Nhưng, trong ‘trường hợp của tác giả NHL’ đã dùng không chính xác về khái niệm triết học.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Ở một chỗ khác, khái niệm “lý tính phổ quát” (‘universal rationality’) được tác giả sử dụng là “giá trị lý trí” trong câu văn : “…Hành động có ý thức là lấy giá trị lý trí làm căn bản” đã làm cho khái niệm cụm chữ trở nên rất tầm thường. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trên đây là vài thí dụ phổ biến trong cách áp đặt từ ngữ qua khái niệm triết lấy từ Hegel nhan nhãn trong sách “Tự Do và Đạo Lý”. Trong dịp tới, tôi sẽ đọc lại và đào sâu từng chương một ( ** ). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;4. Sơ-xảo-tính về sắp xếp nội dung trong “Tự Do và Đạo Lý” &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong “Philosophy of Right của Hegel có ba phần chính (3 Parts), không kể Phần Dẫn Nhập (Introduction), Khai Bút (Preface), và Phần Bổ Sung (Addition). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     --Phần đầu là Pháp Lý Trừu Tượng (Abstract Right), có ba phân đoạn bàn về Tài Sản, Khế Ước, Vi Phạm. Trong hai phân đoạn Tài Sản và Vi Phạm, Hegel còn chia ra các tiểu đoạn như:  Chiếm hữu Tài sản, Gian lận, Hình sự v.v…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     --Phần hai là Đạo Đức (Morality), có ba phân đoạn bàn về Tôn Chỉ và Trách nhiệm, Thiện Tính và Lương Tri..&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     --Phần ba là Đạo Lý Xã Hội (Ethical Life), có ba phân đoạn: Phân đoạn đầu bàn về Gia Đình và Giáo Dục Con Cái, Ly Dị… Phân đoạn hai về Xã Hội Dân Sự. Phân đoạn này chia ra ba tiểu đoạn bàn về Hệ thống, Tổ Chức Dân Sự, Tư Bản và Phân Chia Giai Cấp –Tư Pháp, Cảnh Sát, Tòa Án. Phân đoạn 3 có ba tiểu đoạn bàn về Hành Pháp (‘Crown’ –khác với Tổng Thống chế hay Chế độ Cộng Hòa Đại Nghị hiện nay!), Lập Pháp và Tư Pháp, về Chủ Quyền Quốc Gia, Công Pháp Quốc tế và Lịch Sử Thế Giới. Sau cùng là ‘Phụ chú’ cho toàn thể cuốn sách. Tổng kết ba phần có tất cả 360 đoạn văn  (paragraphs) theo từng tiểu đề suy tư của Hegel.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong “Tự Do và Đạo Lý”, tác giả NHL chia cuốn sách của ông ra làm 7 phần (Phần A đến phần G, -phần G làm phụ chú). Trong 6 phần nội dung cơ bản có 24 Chương. Trong 24 Chương này, bao gồm 178 đoạn văn, cũng theo tiêu đề suy tư ‘tương tự’.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Nhìn chung, sự phân chia Phần và Chương của ‘hai’ cuốn sách (tôi dõi theo từng tiêu đề đoạn văn, người đọc có thể nhận ra tác giả Nguyễn hữu Liêm đã hoàn toàn dựa theo nội dung của Hegel. Tôi thí dụ: từ phần A đến B (‘Nền Tảng Pháp Triết. Đạo Lý Pháp Quyền’) đều dựa theo nội dung của Hegel trong Phần đầu (Abstract Right). Phần C (‘Đạo Lý Cá Nhân’) dựa theo Phần hai của Hegel  (Morality). Từ Phần D tới Phần F (‘Đạo Lý Xã Hội, Đạo Lý Quốc Thể, Đạo Lý Hoàn Vũ) lại chính là Phần ba của hegel trong “Ethical Life”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Chắc hẳn tác giả Nguyễn hữu Liêm hết sức tránh né sự ‘mang tiếng’ của sách của ông là một bản dịch từ “Philosophy of Right”.  Sự tránh né ấy có thể mang một chủ đích “dễ cảm” của tác giả; bởi, hàm chất của một tác phẩm triết học chính trị là sự sáng tạo từ một công trình tư duy được hệ thống hóa, không phải là một bản dịch –“thậm chí” mượn tư duy của kẻ khác nhưng tìm cách che đậy. Bởi vậy, chữ “xảo” trong sơ-xảo-tính của tôi, mong quý độc giả chỉ nên hiểu đó chỉ là một ‘art of re-creation’ mà thôi. Tuy vậy, một sự che đậy như vậy vô tình rơi vào hai sai lầm nặng nề:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     --Một, người đọc nếu vì tình cờ, khám phá từ nguyên bản của Hegel sẽ nghĩ rằng đây là một công trình “sao chụp” tư tưởng của kẻ khác, mặc dầu trong lời mở đầu tác giả đã rào đón là chỉ “mượn”. Như vậy, sự lương thiện trí thức sẽ bị thương tổn. Chẳng thà cứ viết dưới dưới hình thức một bản dịch, kèm theo phụ chú, diễn giải theo ý riêng, người đọc sẽ đón nhận với nhiều thiện cảm hơn.  Dịch sát, và quan trọng nhất là dễ hiểu –để nhằm chuyển tải tư tưởng của triết gia trở thành một giá trị phổ quát nhằm soi sáng những “đầu óc ngu muội nhưng kiêu căng, tàn ác.  Và, tất nhiên tác giả nên bỏ ít tâm sức tìm hiểu, điều nghiên hoàn thành một phụ chú đầy đủ, diễn giải sâu sắc, rỏ ràng cũng đủ làm cho người đọc, xa hơn nữa –những kẻ lãnh đạo cộng sản đần độn thấu hiểu Hegel và khâm phục tác giả!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     --Hai, vì sự cố ý phân chia ‘khác đi’ của “Tự Do và Đạo Lý” về mặt hình thức đã vô tình tố cáo tác giả không nắm được nguyên lý tư tưởng Hegel qua sự ‘phân chia’. Sự phân chia tiết mục của Hegel mang ý nghĩa một hệ thống triết học suy nghiệm (system of speculative philosophy).  Trong ba phần của “Philosophy of Right” và các phân đoạn, phân tiểu đoạn –sự thứ tự đều đi theo một quy luật biện chứng tư tưởng từ thấp lên cao: -sự chuyển hóa từ một ý niệm triết học này chuyển qua một ý niệm triết học khác đều có sự liên kết về tư tưởng. Tôi thí dụ: Nếu khởi đầu là một khái niệm về Pháp lý sẽ đi tới một giai đoạn cao hơn là Đạo đức Cá nhân; từ Đạo đức Cá nhân bước qua một giai đoạn cao hơn nữa là Đức lý Xã hội. Mặt khác, trong các Phân đoạn còn có ‘sự chuyển hóa về khái niệm’ (so transformed!).  Tôi thí dụ: Chuyển hóa từ Tài Sản qua Khế Ước (transition from Property to Contract); chuyển hóa từ Gia đình qua Xã hội Dân sự (transition of the Family into Civil society); từ một Xã hội Dân sự tốt đẹp chuyển qua Nhà nước Pháp quyền với tổ chức chính quyền tuyệt hảo. Và, bằng tinh thần Đạo lý giữa các quốc gia (theo quan điểm Hegel), chúng ta sẽ có một thế giới lý tưởng (Ideal World). Sự phân chia của tác giả NHL, dù hình thức khác đi, nhưng lại ‘sao chụp’ hoàn toàn nội dung –là đánh mất hệ thống tư tưởng Hegel, đánh mất căn tính duy lý mà Hegel đã thiết đặt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tác giả NHL khó phủ nhận nhận xét nêu trên, vì tôi đọc từ đoạn văn 1 đến 178 của ông –không một khái niệm triết học nào đi ra ngoài 360 đoạn văn trong “Philosophy of  Right” ngoại trừ những đoạn văn bàn về Việt Nam và một vài khái niệm của Lão Tử (nhưng hình như tác giả vẫn chưa hiểu được chữ ĐẠO của Lão gia).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tuy mang một nội dung ‘sao chép’, rãi rác đôi nơi vẫn có sự suy tư riêng của tác giả. Song, có rất nhiều điểm tôi không đồng ý với tác giả. Tôi thí dụ: Tác giả viết “Thể tính của trật tự khách quan là Đạo Lý”  (trang 275)  [Tôi mở ngoặc: “thể tính” ở đây phải chăng là “Esssence”?] Đúng hay không, không thanh vấn đề nữa, điều tội hiểu là tác giả muốn nói tới một “trật tự khách quan” chính là trật tự xã hội. Vì vậy, một xã hội có trật tự là một xã hội có đạo lý!  Điều đó có vẻ hợp lý, nhưng là một hợp lý “rational simplicity” (nhóm chữ này tôi đặt ra). Nếu một trật tự xã hội hiện hữu vì sự đe dọa, áp bức của chủ thể pháp lý (như, Đảng Cộng sản Việt Nam) trên đối tượng khách thể (Nhân dân Việt Nam) thì nó không còn là ‘Đạo Lý’ nữa. Trong trường hợp này, Đạo Lý chính là hành động đối kháng cụ thể của nhân dân chống lại chủ thể pháp lý (Đảng Cộng Sản). Nói cách khác, Đạo Lý đó chính là hành động phá đổ trật tự “Ngụy Thiện” hiện hữu để đạt tới một trật tự xã hội Chân-Thiện-tính. Vậy, phải nói “Thể tính của trật tự khách quan là Đạo Lý”, khi trật tự khách quan là ý lực tự do tuyệt đối của khách-thể-tính. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Tác giả NHL và suy tưởng về Tôn giáo : &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong tác phẩm “Triết Học Lịch Sử” (Philosophy of History), Hegel có mỗ xẻ và đề cập đến Tôn giáo trong Phần Một (Thế giới Đông phương) nói về Phật Giáo; Phần Ba (Thế Giới La mã) về Thiên Chúa Giáo. Nhưng, hegel đã trình bày về hai tôn giáo này một cách giản đơn. Về Thiên Chúa Giáo,Hegel viết “Chân lý của khách thể tuyệt đối là Tinh thần”, hoặc “Thượng Đế được nhìn nhận như một Tinh thần khi nó được hiểu như một Tam Vị Nhất Thể (Triunity). Nguyên tắc mới này là cái trục, ở đó lịch sử thế giới chuyển mình. Đó là đích và điểm khởi đầu của lịch sử.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Về Phật Giáo, Hegel có đề cập đến Luân Hồi (Metempsychosis); về Sắc và Không –ông lý giải quá đơn điệu. Hiểu tôn giáo như vậy, nên trong “Philosophy of Right” (Phần Morality –phân đoạn ‘Good and Conscience’, Hegel viết: “Lương tri tôn giáo hoàn toàn không có trên trái đất này”  (‘Religious conscience, however, does not belong to this sphere at all’).  Có lẽ vì không ‘dám’ đi ra ngoài biên thùy của triết học Hegel, tác giả Nguyễn hữu Liêm đã nhìn về Phật Giáo như sau: “Khái niệm thực tại tính, trên căn bản biện chứng triết học Hegel, đòi hỏi hiện hữu thời tại, cũng như vĩnh cửu chỉ có bằng con đường qua thân xác và đời sống trần thế mà thôi. Vì vậy mà mệnh lệnh nghĩa vụ của các tôn giáo, khi chỉ ở thể tính trừu tượng, nhất là của Phật Giáo, không mang thực tại tính” (TD&amp;ĐL, trang 228).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Ở một nơi khác, Nguyễn hữu Liêm viết: “Bản chất đặc thù duy chủ quan là tâm lý hãnh tiến mà Cơ Đốc giáo lên án khi nói rằng tội lỗi nặng nề nhất đối với Thượng đế là sự hãnh tiến về chính mình – hay Phật giáo kết án đối với những chúng sanh đầy ngã mạn” (sđd, đoạn 67, trang 243). Đây chính là tâm lý giản đơn trùng chụp khi tác giả được đọc những đoạn Hegel viết về tôn giáo -có nghĩa phê phán vì Hegel đã phê phán nó, phủ định vì Hegel phủ định, không phải là suy tư từ bản thân tác giả về triết học tôn giáo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Dầu sao, công trình tim óc của “Tự Do và Đạo Lý” vẫn là điều đáng ca ngợi. Từ ‘vị thế’ của một luật sư (là nghề ‘trời’ sinh ra trên đất Mỹ để hốt tiền, có tiền rồi thì mon men vào cánh cửa quyền lực chính trị!), tác giả Nguyễn hữu Liêm lại sa vào lãnh vực triết học, vốn là lãnh vực thuần trí thức. Điều đó có nghĩa hoặc là tác giả đã thất bại cả hai lãnh vực  nói trên, hoặc tác giả là người ‘rất lý tưởng’. Cái ‘lý tưởng’ này có lẽ xuất phát từ sự tha thiết gửi gắm về ‘quê hương đất nước’ –nơi sự tệ hại và đốn mạt của quyền lực chính trị là điều không thể chối cãi. Và, nó bi thảm đến độ tác giả phải than “Những kẻ có lý tưởng thì không có hoàn cảnh để phủ nhận thực tế tiêu cực” (trang 346) –ý tác giả nói đến những người cộng sản lý tưởng. Như vậy, ‘Tự Do và Đạo Lý’ có phải là phương thế để tạo ‘hoàn cảnh’ cho chính mình? Nếu đúng, chúng ta có thể hiểu ‘Tự Do và Đạo Lý’ –là một món quà tự nguyện tác giả dâng lên cho chủ thể pháp lý ở Hà Nội, và nếu nói theo Hegel, là một “món quà –mutum commodatum without interests”. Nếu tâm tư ‘dâng hiến’ là một thực tính chủ quan thì, chính tác giả đã biến lý tưởng thành ảo tưởng khó lường. Những kẻ ảo tưởng bao giờ cũng nhận lãnh cái giá của ‘đắng cay và bội bạc’!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau hết, như tôi đã thưa trước về động cơ viết bài này trong phần đầu, thực tâm của tôi vẫn là muốn học hỏi, mong chờ đón nhận những nhận xét, chỉ giáo của tất cả mọi người (kể cả tác giả) qua bài viết này. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     nguyễn văn hóa &lt;br /&gt;     24/8/1994 - 29.9.2009&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Vài phụ chú ghi thêm sáng ngày 30/9/2009: Tối hôm qua, vừa đánh máy xong thì đã khuya, tôi mệt, tôi đi ngủ ngay. Sáng hôm nay, thức dậy sớm, xin ghi thêm vài điều xét ra cần thiết:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(*)  Tôi vốn là người thích Hegel, nên thường collect đủ các tác phẩm của Hegel. Trong hai tác phẩm: "The Philosophy of Right" và "The Philosophy of History" tôi sử dụng trong bài viết, sau mấy chục lần dọn nhà trong cuộc sống 'trần gian' của tôi -lần này tôi đã làm mất mấy tác phẩm đó. Chợt nhận ra, lúc viết (tháng 8 năm 1994), tôi đã sai sót khi quên ghi lại nguyên văn trích dẫn từ tác phẩm Hegel (đã được dịch từ Đức ngữ sang Anh ngữ). Tôi xin có một lời xin lỗi đến mọi người.&lt;br /&gt;Cũng trong thời gian này, tôi đang sống trong sự "khổ đau", nhưng tinh thần rất mãnh liệt -điều đó đã giải thích dùm cho tôi, vì sao tôi đã viết bài này trong thời gian có 3 ngày (sau buổi chiều đi nghe ra mắt sách/ 21.8.1994 - 24.8.1994 -vừa viết vừa đọc lại hai tác phẩm 'khó nuốt' của Hegel và cuốn sách dày cộm "Tự Do và Đạo Lý" của ông Nguyễn hữu Liêm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(**) Đây là lời "hứa" và tôi đã không giữ lời viết tiếp và viết thêm... về Hegel và mấy cuốn sách của tác giả Nguyễn hữu Liêm, nhưng rồi tôi đã không giữ lời... Tiện thể, xin được gởi một lời Xin Lỗi đến tất cả mọi người. --nguyễn văn hóa, 7 giờ sáng ngày 30.9.2009.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-2631775759715171011?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/2631775759715171011/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=2631775759715171011' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/2631775759715171011'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/2631775759715171011'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/ban-ve-may-so-xao-tinh-trong-cuon-tu-do.html' title='Bàn Về Mấy “Sơ Xảo Tính” Trong Cuốn “Tự Do Và Đạo Lý”'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-6101234001557308573</id><published>2010-01-25T10:23:00.000-08:00</published><updated>2010-01-25T10:26:21.453-08:00</updated><title type='text'>Vài nhận xét sau khi đọc bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn</title><content type='html'>Vài nhận xét sau khi đọc bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn &lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Nguyễn Văn Hóa   &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;    Sáng ngày 3/11/09 mở email, tôi nhận điện thư của ông Trần Kiêm Đoàn với subject trên email “Re: Mô Phật”, có kèm theo bài viết. Chừng nửa tiếng sau, lại có thêm email của Do Chi (có lẽ là Đỗ hữu Chí, bạn của ông Đoàn) khen tặng vài dòng bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn (xin phép tác giả cho tôi được viết tắt là TKĐ từ đây). Tôi chưa đọc bài viết của TKĐ vội. Theo thói quen mỗi sáng, tôi lượt một vòng các websites đã ‘bookmarked’ để tìm đọc một số bài viết mới, trong đó có talawas blog. Tôi thấy bài viết của TKĐ đã đăng, phần ‘comments’ có một số ý kiến hay, xác đáng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Từ hơn một năm nay, tôi quyết định không đăng bài của tác giả TKĐ trên mạng lưới cá nhân Hội Tụ nữa, vì một lý do rất đơn giản tôi nhận xét nội dung không còn hợp với ‘nhãn quan’ của tôi. Tháng 5/2009, lúc còn ở Santa Ana, tôi đã có ý định shut down mạng lưới Hội Tụ luôn, nhân đóng tiền trể cho server hosting. Sau đó, nhà biên khảo Trần Đông Phong là người tôi từng mến mộ được gặp mặt trao đổi, giao tình lần đầu phôn hỏi lý do tại sao mạng HT bị xóa?. Anh ấy hỏi thẳng, nếu tôi có kẹt tiền anh sẽ đóng góp ủng hộ, vì thấy tiếc cho nội dung mà tôi đã bỏ công phu phổ biến. Tôi cảm ơn và từ chối lời ủng hộ, nhưng cảm động vì những lời chia xẻ đó. Thế là tôi tiếp tục đóng tiền hosting và cho website HT chạy trở lại, từ tháng 5 đến nay. HT là một mạng lưới cá nhân, nhưng có tên miền là giaodiem.us dễ gây ngộ nhận, nhưng lý do tại sao tôi vẫn cố duy trì tên miền đó thì rất nhiều độc giả, thân hữu từng theo dõi trong 3 năm qua (2006-09) đã biết rõ rồi. Cho nên, HT từ đó là một mạng lưới của cá nhân tôi, đóng góp cho vui thôi, hoàn toàn không thuộc nhóm chủ trương nào cả. Tôi tự tiện phổ biến những bài viết của ai tôi thích trên Net, nếu được phép xử dụng. Bài viết “Đôi điều với Liên Thành…” của tác giả TKĐ lần này là trường hợp ngoại lệ, vì tôi đã đọc trước trên talawas, nhận thấy nội dung có một số “vấn đề”, nên muốn link bài đó từ talawas mà không đăng bài do tác giả gởi đến.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Đọc xong “Đôi điều với Liên Thành về “Biến Động Miền Trung”, tôi có nhận xét là tác giả TKĐ muốn nhắm tới một công hai việc: muốn làm vai trò báo động cho cộng đồng cư dân Phật Giáo vùng Sacramento trước buổi ra mắt sách của ông Liên Thành sắp diễn ra, đồng thời kèm theo vài lời biện hộ vu vơ cho hai nhân vật lãnh đạo Phật Giáo (tranh đấu) uy tín một thời là hai Ngài Thích Đôn Hậu và Thích Trí Quang –mà có lẽ một thời gian dài TKĐ đã ấm ức về cuốn sách của Liên Thành, nhưng chưa có cơ hội hợp lý để nói (hoặc không dám nói?). Đó là một nhận xét “ức đoán”, song dù có đúng hay không nội dung bài viết để lộ ra nhiều “hạt sạn” khá to. Tôi xin được nhặt ra vài “hạt sạn” đó. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Tác giả TKĐ quá đặt năng vấn đề “danh tướng”  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Đoạn văn thứ ba trong phần mở đầu TKĐ đã nhận xét BĐMT của Liên Thành (từ đây xin viết tắt là LT và BĐMT) đã tạo “nhiều dư luận xôn xao” là “bởi… tâm lý, khát vọng, lý luận hậu quả bi thảm của cuộc chiến Việt Nam….”, và “Sự phân định, xác quyết, chỉ danh điểm mặt hai tuyến nhân vật thiện-ác, chánh-tà….là một nhu cầu tình cảm, tâm lý và tri thức của cả một thế hệ đang lần bước đến tuổi già…”   Nhận xét như vậy, hóa ra TKĐ đã vô tình xác nhận việc làm của LT là cần thiết và quan trọng đấy chứ! Hơn nữa, công việc ấy và tác dụng của nó đâu phải chỉ dành cho những người  “bước đến tuổi già” như LT hay TKĐ, còn để lại cho thế hệ hậu sinh nữa, và càng quan trọng hơn, nếu mỗi đóng góp lịch sử làm cho sáng tỏ thêm giữa thiện-ác, chánh-tà… soi rọi sự chiến thắng của chế độ Cộng sản hiện nay có xứng đáng để nó tồn tại hay không, vô hình trung là đóng góp, chuyển ngọn lửa chính nghĩa về cho đồng bào, trí thức đang đấu tranh cho dân chủ, tự do tôn giáo… trong nước là công việc –tôi  xin mượn ý của Phật để gọi đó là hành vi Bồ tát vậy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Làm sáng tỏ hơn một phần lịch sử của “BĐMT” trong thời kỳ 1966 ở miền Nam VN, còn đóng góp thêm vào việc giải tõa những uất ức của những người Phật tử mộ đạo mà cứ bị gán ghép là Cộng sản, thân Cộng; làm sáng danh cho những phần tử Phật Giáo tranh đấu từ chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm xuất phát từ lý do đơn thuần chống lại sự “kỳ thị, phân biệt đối xử” của nhà cầm quyền với Phật Giáo mà thôi, hoàn toàn không dính líu gì tới Cộng sản, hay ‘sách lược thống nhất đất nước’ nhưng có lợi cho Cộng sản miền Bắc cả. Tôi chưa có dịp đọc hết toàn bộ cuốn sách BĐMT trên Net, nên chưa dám có ý kiến gì về trọng lượng, sự chân xác của nó; nhưng giả như có những tác giả nhận xét về cuốn sách ấy không thích đáng chỉ làm cho gia tăng trọng lượng cuốn sách, lúc ấy sẽ khó phủ nhận tính chính nghĩa của BĐMT, và công việc “biện hộ, gỡ tội” cho một số nhân vật lãnh đạo Phật Giáo tranh đấu trong quá khứ trở nên vô nghĩa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Từ suy nghĩ đó, khi tôi đọc thấy hàng chữ “Tập sách BĐMT… và những bài viết của LT về một số nhân vật thành danh xứ Huế đã tạo nhiều dư luận xôn xao…” thì tôi đã bắt đầu cảnh giác về tinh thần lệch lạc của TKĐ.  Như đã có biện giải ở trên, viết về giai đoạn lịch sử -chưa quá xa mờ, khi một số nhân chứng, tác nhân vẫn còn hiện hữu đó đây, mà hành động lịch sử của họ đã tạo ra một hiện trạng nghiệt ngã (đưa tới hậu quả chế độ cầm quyền hiện tại) thì không có một phạm trù giới hạn, không một nhân vật nào (đời thường hay tu hành) có thể được miễn trừ.  TKĐ dùng nhóm chữ “một số nhân vật thành danh xứ Huế” gây cho tôi ấn tượng –đó là điều cấm kỵ mà LT đã vi phạm, nên mới gây dư luận “xôn xao”.  Đó là tâm lý trọng “danh tướng”, và có thể vì tâm lý đó, nên TKĐ mới dùng một số nhóm từ khác để mỉa mai LT như : “thuộc dòng dõi quý tộc triều Nguyễn”, “người Hoàng phái” như LT lại đi nói điều phách tấu?!”, “người Hoàng phái danh gia đệ tử” ; chê LT có chức vụ chưa xứng đáng để viết hồi ký : “viên cảnh sát trưởng địa phương”, “một ông trưởng ty tỉnh lẻ”, “một trưởng ty cảnh sát nhỏ bé”, “nhân viên cấp tỉnh”, “một viên thiếu tá địa phương” và vân vân…&lt;br /&gt;Tôi thiết nghĩ, với tư cách một nhà văn đã “thành danh” như TKĐ thì không nên để vấp phải khuyết điểm này, khi viết. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Tính khoa ngôn của tác giả TKĐ &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Tác giả TKĐ đã dùng các nhóm từ sau để phê phán nội dung của BĐMT: “đại ngôn thái quá”, “phách tấu” (nói theo kiểu Huế có nghĩa là nói dóc, nói “phẹt”…)  Ở một đoạn văn khác ( in ra khổ giấy 8x11,  trang 9/11), TKĐ khinh rẻ trình độ “học vấn” (?) của LT, nên chi LT “Hoặc vì không đầu tư học hỏi nghiêm túc, không chịu tham khảo tới nơi tới chốn; hoặc vì một động cơ khó hiểu hay dễ dãi nào khác đã khiến Liên Thành đang đứng ở ngã tư thế giới nhưng vẫn tưởng như còn đang đứng ở Ngã Ba Bánh Bèo xứ Huế “mô rứa răng ri, thích chi noái nấy” qua 400 trang của BĐMT !...”   Qua đoạn văn này, tôi nghĩ TKĐ đã không những bộc lộ sự khinh mạn kẻ “đối tác” nặng nề mà còn chứng tỏ ông “mục hạ vô nhân”. Có thể vì ông tự-kỷ-ám-thị  rằng mình là một “tiến sĩ tâm lý học”–một “giáo sư đại học” !? * ( Tôi có nghe thấp thoảng ông có bằng cấp tiến sĩ!) và một nhà văn “thành danh” mà phải hạ mình viết một bài phê phán cuốn sách LT là việc chẳng đặng đừng, không xứng đáng chút nào cả, nên chi phải “phang”, dạy dỗ LT bằng những câu văn như thế mới là thích đáng!?  Tôi sợ rằng, độc giả cũng rất tinh ý nhận ra những chỗ phô trương đầy sai lầm của ông. Tôi thí dụ trong đoạn văn sau đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Trong một tiến trình truy tìm bằng chứng, phân tích, lý giải để tìm câu trả lời cho một vấn đề, nếu chỉ đứng về mặt phương pháp luận thì Đông–Tây rất khác nhau. Người phương Tây thiên về lý, phương Đông ta thiên về tình; phương Tây thường lý luận và chứng minh bằng dữ kiện khách quan độc lập, phương Đông ta thường suy diễn bằng cảm nhận và kinh nghiệm chủ quan tập thể. Xác định điều này để nói lên sự dè dặt và cẩn trọng cần thiết về tính khả tín – mức độ đáng tin cậy – khi đọc và tìm hiểu một bản tin thời sự hay một tác phẩm liên quan đến tình hình thời cuộc như Liên Thành và BĐMT.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Tôi cho rằng đoạn văn trên có vài điểm không chính xác. Thứ nhất, khi nói về phương-pháp-luận (methodology) thì không thể đơn giản quy kết “phương Tây thiên về lý”, “phương Đông thiên về tình”. Bởi, phương-pháp-luận mang tính hệ thống, quy tắc, kỹ thuật, lôgic trong đó, ta tạm gọi là tính khoa học. Phương pháp luận của Đông phương dù có điểm khác biệt với Tây phương –nhưng không phải là “phương pháp luận thiên về tình”. Nói trống rỗng như vậy dễ làm cho độc giả hiểu lầm là người viết có kiến thức thô thiển về triết học Đông phương (bởi phương-pháp-luận là một phạm trù của triết học), không nắm vững về triết học Ấn Độ, triết học Trung Hoa qua các trường phái triết học luận gia, pháp gia, biện chứng pháp v.v.. Và, tại sao lại nói “Đông phương ta”?  Chữ “ta” là để chỉ về cái chung về chủng tộc hay văn hóa?  Chủng tộc đã sai mà chỉ định về văn hóa cũng sai luôn. Người ta nói Trung Hoa và Việt Nam mang tính “đồng văn”, đó là cách nói cường điệu dựa trên yếu tố ngôn ngữ là chữ Nôm có gốc từ chữ Hán; thứ đến là một số phong tục tập quán từ 1000 năm lệ thuộc dù VN bị ảnh hưởng Tàu, nhưng qua thời gian dân tộc ta đã phủ nhận triệt để -từ cách ăn cách mặc cho đến tín ngưỡng, giọng nói, chữ viết. Đó là chưa nói đến văn hóa Việt Nam có một nội dung đủ để “đối chọi” với văn hóa Trung Hoa. Nói “Đông phương ta” bộc lộ một sự thiếu sót về lãnh vực nghiên cứu nào đó của TKĐ. Điểm khác, TKĐ cho rằng “phương Tây thường lý luận và chứng minh bằng dữ kiện khách quan độc lập, phương Đông ta thường suy diễn bằng cảm nhận và kinh nghiệm chủ quan tập thể” cũng thiếu chính xác, tối nghĩa. Trước hết, nên phân biệt “dữ kiện”  (data) trong khoa học thường nghiệm khác với dữ kiện thuộc về nhân văn, xã hội, đồng thời cũng nên biết phân biệt giữa hai từ nghĩa sự kiện (facts) và dữ kiện. Hai, chứng minh và lý luận là hai yếu tố ắt có và đủ, trước khi đi tới kết luận. Lý luận mà không chứng minh, dễ trở thành lý sự; ngược lại có chứng minh mà thiếu lý luận thì đánh mất khả năng hệ thống hóa và không thuyết phục. Để chứng minh và lý luận, có khi người ta phải biết tổng hợp, phân tích các sự kiện. Các dữ kiện và sự kiện có khi cần phải nối kết và dựa lưng vào nhau mới tìm thấy một kết luận tốt nhất; chứ không phải phương Tây là… “dữ kiện khách quan độc lập”. Thế nào là “kinh nghiệm chủ quan tập thể” ? Kinh nghiệm là một yếu tố chủ quan, đã hẳn. Nhưng, chủ quan là đối tượng của cá thể -không thể nói là “chủ quan tập thể”.  Đó là cách ghép danh từ thiếu chính xác. Thí dụ tôi nói: các kinh nghiệm chủ quan cá thể bỏ vào “bồn trí tuệ” (từ của TKĐ dịch “Think Tank”!) sẽ trở thành một kinh nghiệm chủ quan tập thể thì có thể chấp nhận được; bởi từ đó các cá thể sẽ bị hòa tan để trở thành một kinh nghiệm chủ quan duy nhất, đồng nhất thể. Điều này chỉ có thể xảy ra trong “bồn trí tuệ” của Đảng Cộng sản thôi, xin tác giả chớ nhầm lẫn với tinh thần “Đông phương ta”.    &lt;br /&gt;    Tôi nhận thấy rằng tác giả TKĐ đi quá xa trong tinh thần “khoa ngôn” khi ông phô bày về kiến thức, khả năng, kinh nghiệm về lãnh vực tình báo. Và tôi nghi ngờ kiến thức, kinh nghiệm của tác giả. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Để phô bày kiến thức, tác giả cho biết đã đọc được: “Of Spies and Lies” của John F. Sullivan. Tuy nhiên, trong 12 dòng TKĐ viết về cuốn sách tôi không thấy ông nêu được giá trị thật sự của tác phẩm tình báo này là cái gì?. Tôi sợ một số độc giả “mọt sách”, có nghiên cứu về tình báo sẽ cho là TKĐ “khoác lác” liệt kê sách ra để hù LT. Thành thật, tôi chưa đọc cuốn sách này, nhưng có tò mò vào Net để tìm hiểu các bài “reviews” của độc giả, tôi nhận ra cả tác giả lẫn cuốn sách tình báo thuộc loại ‘xoàng’.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Cuốn thứ hai TKĐ nêu ra là của James J. Wirtz: The Tet Offensive: Intelligence failure in War mà TKĐ cho là một ‘tác giả chuyên nghiệp tình báo’.   Tác giả TKĐ nhận xét về cuốn sách được 3 dòng : “tình báo Mỹ đã biết trước cuộc tổng công kích này từ tháng 11 năm 1967, nhưng chưa xác định được ngày giờ đích xác. Sự thất bại của tình báo Mỹ bắt nguồn từ sự thất bại của tình báo Việt Nam, mặc dầu đã biết trước sự cố từ hơn 3 tháng trước.”   Nhận xét như vậy, một lần nữa tự tố cáo tác giả có thể chưa đọc gì hết cuốn sách này. Sự “thất bại về tình báo” trong trận Mậu Thân 1968 dẫm vào nhiều vấn đề tế nhị hơn nhiều. Thí dụ: tướng Fred Weyan đã có sẵn kế hoạch tiêu diệt toàn bộ cán binh cộng sản, nhưng có vài mâu thuẫn và do dự giữa hành động quân sự và chính trị giữa các tướng chỉ huy quân đội Mỹ như Westmoreland và chủ nhân của Tòa Bạch Ốc là Johnson. Riêng ở Huế, có thể tình trạng khác hơn vì đa số dân Huế đều tôn quý sự cúng bái tổ tiên vào đêm lễ Giao Thừa, từ đơn vị về nhà với gia đình quá gần, vì du di tình cảm với nhau nên cấp chỉ huy đã để cho hơn nửa quân số về ăn Tết với gia đình. Một lý do khác các vị chỉ huy ở Huế dù đã nhận biết tin tình báo Việt Cộng ‘tấn công’, nhưng vì tinh thần văn hóa của người Việt không tin Cộng Sản có thể nào mà muốn giết nhau trong đêm Giao thừa thiêng liêng của dân tộc!.  Có thể cho đó là sự thất bại của tình báo về kế hoạch chống trả, phản công; nhưng sự thất bại ấy không phải là “sự thất bại của tình báo Mỹ bắt nguồn từ sự thất bại của tình báo VN…”  Đổ tội như vậy là đỗ tội oan cho khả năng của “tình báo VN”, không nắm vững tổ chức và kỹ năng của tình báo Mỹ. Thật tế cả hai phía tình báo đều biết trước, nhưng ở Huế lại chịu hậu quả thê thảm nhất, đau thương tột cùng. Có lẽ đó là “quả báo” mà người dân Huế phải trả nợ cho những oan cừu. Dù sao với sự thiệt hại về khổng lồ về nhân mạng, nhất là lực lượng Mặt Trận GPMN… cũng là bài học cho muôn kiếp sau vậy. Theo tôi, có vài cuốn sách của hai tác giả Việt là Nguyễn Kỳ Phong và Vũ Ngự Chiêu viết về Tết Mậu Thân cũng đủ giá trị để hiểu thực hư của vấn đề tình báo trong giai đoạn đó ra sao. Nhưng nếu muốn tìm hiểu cho ra ngọn ngành về tình báo Mậu Thân của Mỹ và VNCH thắng hay bại, tại sao thắng, tại sao bại, tại sao có người gọi là thắng về quân sự, nhưng bại về chính trị? Vả lại, tại sao bây giờ ta có thể nói Cộng sản thắng tạm thời nhưng phải chịu bại cả trăm năm sau?  Muốn hiểu thì nên nghiên cứu về hệ thống tổ chức tình báo Mỹ, không chỉ riêng có CIA (phải nắm từ Directorate.. cho đến từng chief of station, case officer) mà còn cả 14 cơ quan tình báo khác nhau (kể luôn cả cơ quan FBI); phải biết phân biệt giữa 14 cơ quan này với 6 tổ chức tình báo riêng của tổng thống như: PFIAB, IOB, NSC, SIG, Igs,… Không ai có thể dám tự hào mình biết rõ về tổ chức tình báo khổng lồ đó, và do đó nên tránh việc “dạy dỗ” hay chê bai người khác về tình báo. Đó là một sai lầm ấu trĩ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    -Về kinh nghiệm tình báo của tác giả: TKĐ kể lể qua gia thế ông cũng có hai người anh: Một là chỉ huy trưởng Biệt Kích Dù “….gắn liền số phận sinh tử với mấy tổ nhảy toán tình báo vào đất địch.” Người thứ hai làm ở phòng An ninh Không đoàn 41 (theo chỗ tôi biết, có lẽ đây là không đoàn trinh sát L-19 ở phi trường Đà Nẵng?); người anh thứ nhất đã tử nạn rồi (đọc đến đây, tôi xin được chia xẻ nỗi buồn ngày trước của ông Đoàn!).  Tuy kể ra vậy, nhưng tôi không thấy hai “dữ kiện” này liên quan chi tới kinh nghiệm cá nhân về tình báo của TKĐ cả?  Trong văn chương biện luận, tôi nghĩ đây là điều thừa thải, không nên có.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Kinh nghiệm đáng nói là TKĐ đã từng hợp tác làm việc cho Peter Downs nào đó bằng công việc “dịch nhi bất tác” các hồ sơ ‘classified’ (không hiểu vì sao tác giả lại xổ Nho ở đây? –cứ viết thẳng là dịch hồ sơ mật có vẻ ngon lành hơn không?)– Peter, nguyên là giám đốc cơ quan xã hội Tinh Lành VN (VNCS).  Đó là chuyện đáng nghe trong lãnh vực tình báo, dù nội dung của nó chẳng liên quan cho tới cuốn sách của LT cả. Tình báo là lãnh vực bí mật, ai cũng biết. Người phục vụ cho tình báo có thể bất cứ thành phần nào trong xã hội: một nhà báo, một giáo sư, một người dịch hồ sơ cho Tin Lành (như TKĐ), một anh đạp xích lô, một quân nhân (như LT) vậy thì tại sao TKĐ trong nhiều dòng chữ lại cố tình hạ thấp, khinh thị ông LT chưa đủ trình độ để làm…tình báo?  Thú thật, tôi không thể tìm ra tông tích của Peter Downs cũng như tổ chức tôn giáo có tên ‘Vietnamese Christian Social Services’ ở miền Trung trước 1975 là ai. Nếu được, mong nhận được lời giải thích thêm của tác giả hay các độc giả khác có biết đến. Xin cám ơn trước.  Dầu sao, tôi không tin nếu chính quyền CS ở Huế đã biết ông TKĐ từng hợp tác làm việc cho một tổ chức tình báo trá hình tôn giáo mà chỉ bị cho “nghỉ dạy học, đi đạp xích lô” thôi sao?  Một chính quyền gồm những kẻ mà TK Đ gọi là: “một thiểu số thành phần xuất thân giữ trâu, giữ bò vô học trở thành người chiến thắng” lại đối xử với ông TKĐ ‘dễ chịu’ đến thế khi đã biết ông làm công việc “dịch nhi bất tác” cho một tổ chức tình báo?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Vắn tắt, tôi nhận thấy kiến thức, kinh nghiệm về tình báo của TKĐ còn quá mờ nhạt mà đã lên giọng thầy đời với LT, là một điều nên tránh. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;    Còn rất nhiều hạt sạn khác nữa trong bài viết của TKĐ, nhưng tôi chỉ chọn một số hạt sạn tiêu biểu nhất thôi. Có lẽ tôi hiểu được nỗi lòng của một ‘cựu huynh trưởng gia đình Phật tử’ (như TKĐ) chẳng đặng đừng mà phải lên tiếng “muộn màng”. Cái “muộn” của LT khi viết hồi ký (hay “hồi ức..”) có lý riêng của nó, cũng như bài lên tiếng “muộn” của TKĐ cũng có cái ‘lẽ’ riêng. Khi ông TKĐ đã rào đón rằng,  “Trong giới hạn của một bài viết ngắn dưới hình thức “đôi điều góp ý”, thay cho lời chào hỏi xã giao khách phương xa đến viếng vùng mình, người viết không có tham vọng và có lý do đứng ở một vị trí nào đó để làm công việc biện minh không cần thiết và phán xét chưa đủ căn cứ cho các nhân vật và hoàn cảnh đã được nêu lên trong BĐMT..”  thì ở phần cuối (trang in 10/11) một lần nữa tác giả lập lại, “Đây chưa phải là bài điểm sách và cũng chẳng phải là bài phản hồi nghiêm túc tương xứng với vấn đề đặt ra mà chỉ là đôi điều góp ý.”  Thế mà TKĐ lại quên khuấy chuyện “đôi điều góp ý” thì chừng 2 trang giấy là đủ rồi… lại dài hơi, vòng vo tam quốc làm cho bài “phản biện” của mình vấp phải quá nhiều khuyết điểm, “thậm chí” có thể nói là một bài viết tiêu cực, phản cảm. Có chỗ có thể gây phiền lòng cho một số người “đàn ông Huế” khi TKĐ cho rằng, “Huế nghèo nhưng thanh bạch. Thanh bạch trong cách sống và trong lời nói. Người bốn phương yêu Huế vì cái phong cách Huế mà đặc biệt là sự tao nhã, tính văn hóa và dáng vẻ khiêm cung trong ngôn ngữ.”; đó là cách tâng bốc đặc tính địa phương, nhưng lại là mệnh đề dùng sai chữ. Người ta nói, “thanh bạch trong cung cách sống; thanh nhã (hoặc thanh tao) trong lời nói”, không ai lại nói “thanh bạch trong cách sống và trong lời nói” làm độc giả dễ hiểu nhầm tác giả ‘chơi chữ’ -vì “giận” LT mà chơi “đàn ông Huế” (trong đó có tôi) là ăn nói vô duyên òm, nói lãng nhách, nói trống rỗng… sao!?  Hơn thế, nhiều đoạn văn khác TKĐ lại vi phạm sự tao nhã, tính văn hóa, vẻ khiêm cung… với ông LT mất rồi.  Trong cái tính văn hóa ấy, tôi tin ông TKĐ còn cưu mang tinh thần muốn “đánh” nhưng không muốn làm mất lòng ai, nên vừa đánh vừa vuốt.  Tôi thí dụ, đoạn văn “tìm hiểu phản ứng của một số người… thì được biết thái độ của họ đã thể hiện trong nhiều cách thế khác nhau:…… Những người cho Liên Thành là dối trá thì phản ứng lạnh nhạt. Họ cho rằng đây chẳng qua là một cuộc đánh trống khua chiêng của Liên Thành tự quảng cáo mình một cách dễ dãi phù hợp với bản chất cố hữu của ông từ trước tới nay với sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhóm “Phù Ngô phục hận” đầy bản lĩnh đang đứng ở hậu trường (?!)” (trang in 2/11), nhưng ở trang 9/11 TKĐ viết :  “Trước khi phong trào tranh đấu Phật giáo phát khởi tại Huế thì Mỹ đã quyết định thay chính quyền Tổng thống Ngô Đình Diệm vì tâm huyết sâu sắc, lòng yêu nước đậm cốt cách liêm khiết Nho phong và cách dùng người nhân hậu của Cụ đã bị nịnh thần và phản thần chuyên quyền lợi dụng. Nhất là ở miền Trung, tham vọng quyền lực và vật chất của thế lực gian thần ngày càng tác oai tác quái đã làm mờ đi chính nghĩa của cụ Ngô. Niềm tin khô cạn, nhân tâm lý tán….” (**) Nội dung này hàm ý một kiến thức lịch sử hời hợt của TKĐ, nhưng nói lên được nỗi lòng kính mến người quá cố là Tổng thống Diệm. Điều ấy thì độc giả có thể chấp nhận và tôn trọng được, nhưng nếu đã nói như vậy đâu có thể trách cứ nhóm “Phù Ngô phục hận” “đứng đàng sau LT” được, vì họ có chánh nghĩa; và đâu cần phải trách cứ LT làm gì, vì LT chỉ là ‘con cờ’, là ‘nạn nhân’ thôi, có phải không!?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong lúc viết sắp xong bài này, tôi đã đọc hết 22 ý kiến tham luận của độc giả về bài viết của TKĐ trên talawas. Tôi muốn ngưng bài viết ngang đây, để tránh sự ôm đồm và dài dòng. Trước khi ngưng, tôi xin được bày tỏ vài lời về thái độ của tôi đối với hai nhân vật lãnh đạo Phật Giáo miền Trung: Ngài Thích Đôn Hậu (đã qua đời) và Thích Trí Quang. Đối với tôi, Ngài Đôn Hậu là đã rõ ràng là ngài đã chấp nhận và hợp tác với chế độ Cộng sản “thắng trận”, khi ngài đã tham gia vào Quốc hội CS, và vân vân... Không còn gì để bàn cãi nữa; dù cho trong quá khứ ngài là một nạn nhân bị cường quyền “cưỡng ép”.  Riêng ngài Thích Trí Quang, (xét từ tâm lý của tôi), tôi tin ngài có cảm tình với Cộng sản –từ khi người CS có gắn bó lịch sử với tinh thần yêu nước, nhưng có thể ngài không bao giờ thích hợp với chủ nghĩa cộng sản. Trong quá khứ, nhất là giai đoạn 1966, Thích Trí Quang đã vi phạm nhiều sai lầm, quá khích, đi quá đà trong chiến thuật đấu tranh của một tôn giáo từ bi, hỷ xã, vượt quá khỏi giới hạn của một lãnh tụ tôn giáo không hề màng tới danh lợi, quyền hành thế tục. Nhưng, tôi không tin ngài Thích Trí Quang là một cán bộ cộng sản (hay nói cách khác là một đảng viên đã từng tuyên thệ gia nhập đảng CS). Có nhiều người (dù trong giới biên khảo lịch sử) cũng có khuyết điểm là không nắm vững tường tận về kỹ thuật móc nối người, tuyển chọn, thử thách, bồi dưỡng, và “nghi thức” để trở thành một đảng viên cộng sản mà đã vội quy kết kẻ khác là đảng viên Cộng sản.  Do đó, tôi có quyền nghĩ những xuất xứ nói thầy Trí Quang cộng sản chỉ là điều vu chụp, không đúng. Giữa năm 2004, qua sự giới thiệu và hướng dẫn của giáo sư Thái Kim Lan, tôi có vinh dự được diện kiến với thầy Trí Quang tại phòng riêng của Thầy tại Chùa Già Lam trong gần 3 giờ. Tôi gọi là “vinh dự” cũng phải thôi, vì nếu không có gs Thái Kim Lan thì tôi có đáng gì đâu mà được thầy tiếp chuyện. Khi trở về Mỹ, tôi không bao giờ viết về nội dung của cuộc nói chuyện đó, chỉ vì nghĩ tôi chưa đủ tư cách để viết. Người có đủ tư cách viết là gs Thái Kim Lan, vì chị ấy vừa là đệ tử, vừa là người thân cận thầy suốt một chiều dài lịch sử. Nhân đây, tôi chỉ xin được phép thầy cho tôi tiết lộ một ý kiến ngắn ngủi của thầy khi chúng tôi có đề cập đến các hiện tượng xã hội sa đọa hiện thời. Thầy nói, “một chế độ mà để cho thanh thiếu niên nam nữ trong xã hội sa đọa, trụy lạc như vậy thì đâu có được…”  Tôi mang theo âm thanh của lời nói đó trong suốt mấy năm qua, không phai nhạt. Từ đó, tôi hiểu được tâm trạng của một bậc lão sư tuổi già sức yếu như thế nào. Mong rằng những người viết sử, chính trị - dù ghét phong trào đấu tranh Phật Giáo xuất phát từ tháng 5/1963 dưới chế độ của Tổng thống Diệm kéo dài liên tục nhiều năm sau đó, nên cân nhắc lợi và hại của việc vu chụp thiếu căn cứ một số vị lãnh đạo Phật Giáo ngày trước là cộng sản.  Từ tâm tư thầm kín của thầy Trí Quang, đến những chuyển biến tinh thần của cá nhân tôi qua nhận thức thực tế xã hội và con người cộng sản hiện nay, tôi nghĩ rằng hành động bênh vực chế độ hiện nay là một điều sai trái. Đó là một chế độ bất lực, đang tự hoại, cho nên đất nước cần có một chế độ dân chủ, có hiến pháp mới, phổ thông đầu phiếu để chọn người tài đức lãnh đạo; một xã hội trong đó người dân phải được bảo vệ với những quyền tự do căn bản như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phải có tiếng nói chính trị đối lập. Nếu giả như người dân chọn nhầm người lãnh đạo, dân chúng vẫn có đủ thời gian và cơ hội để chọn lại theo luật định.  &lt;br /&gt;Để kết luận tôi nghĩ rằng, cuốn sách của ông Liên Thành có thể có nhiều sai lầm, nhưng cần thiết. Nếu có sai lầm chúng ta sẵn sằng vạch ra những sai lầm đó cho công luận thấy, nếu có điều đúng chúng ta phải nhìn nhận, để từ đó chúng ta có thể nhìn thấy ánh sáng cuối đường hầm.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;Thursday, November 05, 2009 &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(Các chữ đánh đậm trong bài là để nhấn mạnh của người viết)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(*) dạy đại học, nhưng tôi không biết TKĐ dạy về môn gì? Tiếng Việt? [qua kế hoạch soạn thảo của ông ĐHT đón Nguyễn Đắc Xuân đến California, có mục TKĐ đón chào NĐX và mời NĐX đến nói chuyện ở trường Đại học Cộng đồng  River-Consumes Community College. Tôi có một thời gian ở Sacramento, nên cũng biết khá rõ các địa danh của vùng này!  -ghi thêm cho rõ ý, ngày October 06, 2009. Xin cáo lỗi.&lt;br /&gt;(**) Xin độc giả lưu ý, đoạn văn từ "Tìm hiểu phản ứng... đến...không đáng nói mà thôi." thiếu chủ từ, hoặc có thể hiểu là tác giả xử dụng 'chủ từ ngầm' (ai tìm hiểu?) -thêm sáng ngày 06 October, 2009.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-6101234001557308573?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/6101234001557308573/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=6101234001557308573' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/6101234001557308573'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/6101234001557308573'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/vai-nhan-xet-sau-khi-oc-bai-viet-cua.html' title='Vài nhận xét sau khi đọc bài viết của tác giả Trần Kiêm Đoàn'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-343447120921159716</id><published>2010-01-25T10:19:00.000-08:00</published><updated>2010-01-25T10:22:35.972-08:00</updated><title type='text'>Tiếng hát của màu xanh</title><content type='html'>Tiếng hát của màu xanh &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn văn Hóa (Thường Đức) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có tiếng chuông điện thoại reo. Tôi cầm ống nói lên và “a lô”, thì nghe giọng nói của một phụ nữ với âm thanh như thân thuộc từ thuở nào,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Có phải H. đó không? Chị Hà đây!”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Trời ơi, chị Hà. Chị đang ở đâu đó, mà chị qua Mỹ từ hồi nào, có bé Uyên đi theo không?”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tiếng chị Hà thánh thót trả lời,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Hai mẹ con chị mới qua. Gia đình bảo lãnh.”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi vui mừng, tíu tít hỏi được vài câu và còn muốn hỏi thêm nhiều câu hỏi nữa thì chị ngắt lời một cách tự nhiên:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Thôi, lắng tai để chị hát cho H. nghe.” &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi cụt hứng… trong vài giây im lắng thì giọng hát đầu kia vang lên,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào. Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…” &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản nhạc ‘Lòng Mẹ’ của nhạc sĩ Y Vân qua giọng hát của chị Hà thật tuyệt. Giọng hát vẫn như ngày xưa theo từng tiếng rung thanh như được tẩm trái chanh giấy cắt mỏng ngâm với đường phèn. Đây là bản nhạc Si-bémol nhịp bốn với 10 câu mở đầu bằng những nốt nhạc đằm rất dễ hát, nhưng bước qua câu thứ hai, đổi tone lên cao vút… Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào… thì cần có một kỹ thuật chuyển tone thất khéo, nếu không nó sẽ “ré, rống” lên như giọng mấy cô ca sĩ cán bộ được đào tạo từ lò nhạc viện Trung Quốc. Thế mà kỹ thuật chuyển tone từ giọng hát chị Hà như tiếng con diều nhờ gió đưa cao vút lên tạo ra một thanh âm nhẹ nhàng, bất chợt, khó nhận ra sự chuyển biến thanh độ. Khác xa với tiếng “vút” của chiếc phi tiển bắn thẳng lên trời như mấy cô ca sĩ được đào tạo trong chùm xã hội chủ nghĩa quốc tế ngày nay.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tay tôi cầm ống nói điện thoại và nghe một giọng hát văng vẳng quen thuộc từ chiếc ra dio hiệu Philips của chú Thọ từ thuở tôi còn nhỏ. Hình như giọng hát của chị Hà nổi danh từ thời của Lệ Thanh thì phải. Tôi không quan tâm tới điều “nổi danh” này lắm, và nói thành thật thì khi lớn lên tôi không “mê” giọng hát của chị Hà, chỉ vì nó không hợp với cái “gu” của tôi. Thế thôi. Tôi thích một giọng hát nhừa nhựa có chất ma túy của phòng trà và mùi rượu. Giọng hát của chị Hà là giọng hát của những cánh đồng xanh, của những giòng sông thơ mộng, hiền hòa. Bắt chước một cuốn phim Việt Nam nào đó, tôi gọi giọng hát của chị là giọng hát của màu xanh lá đu đủ. Màu xanh của lá chuối non, chứ không phải là màu xanh “blue” buồn bã. Đó là giọng hát của một xã hội thanh bình, của niềm tin yêu và hy vọng. “Làng tôi êm đềm soi bóng Hương Giang. Những đêm trăng sáng lung linh giòng sông. Có cô giặt ếm bên bờ dịu dàng. Vẳng tiếng khoan hò, dìu dặt lời nhạc ru….”   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau này, ở hải ngoại, thi thoảng tôi có nghe chị Hà hát nhạc Phật Giáo, giọng hát chị vẫn hay, thanh, cao nhẹ, và tôi tự đặt thêm cho giọng hát của chị bằng một nhóm chữ trừu tượng khác, “giọng hát của Từ Bi”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lời chào của chị Hà gởi đến tôi –qua bản nhạc Lòng Mẹ, nhân ngày mẹ con chị đoàn tụ ở Mỹ với gia đình tính đến nay, đã gần một phần tư thế kỷ. Hôm ấy chị hát một lèo hết bản nhạc nhạc Lòng Mẹ, kể cả phần điệp khúc, hát xong chị nói thêm vài lời và chia tay. Cúp phôn. Tôi không có cơ hội để gặp gỡ một lần nữa, chỉ nghe được tin chị qua người khác. Nhưng, từ đó đến nay tôi vẫn cứ thắc mắc hoài, tại sao chị Hà chọn bản nhạc Lòng Mẹ hát cho tôi nghe mà không phải là bản nhạc khác? Lòng Mẹ? Ý chị muốn ngợi ca lòng mẹ của mẹ tôi, lòng mẹ của chị đối với cháu Uyên, hay là lòng mẹ Việt Nam? Tôi không trả lời được điều thắc mắc này; dù sao, với sự quen biết, đi lại giữa chị và gia đình tôi, cho phép tôi nêu ra điều thắc mắc cắc cớ này. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đúng ra, tôi không quen biết chị Hà, vì lẽ thế hệ của chị lớn tuổi hơn tôi. Tôi cũng không hề quan tâm đến chị mang họ gì, chỉ biết tên hiệu ca sĩ của chị là Hà Thanh. Ở Sài Gòn, có lúc nghe người ta đồn ngày trước, chị là người yêu của nhạc sĩ có bản nhạc nổi tiếng “Đàn ơi, xa rồi” của Hoàng Nguyên Cao Tự Phúc. Và, hình như là ông Hoàng Nguyên CTP có tham gia vào phong trào tranh đấu Phật Giáo của một thời chính trị hoang tưởng của thế hệ trẻ ở Huế thì phải!. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;*  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;*         * &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chị Hà là bạn của người anh kế tôi (ông Nguyễn Tiến). Sau khi anh tôi đi học tập cải tạo chừng bốn năm thì được Cộng sản cho về. Tôi là em, nhưng lập gia đình trước, anh tôi còn độc thân. Trong thời gian học tập về, ông gia nhập vào Hội trí thức yêu nước (HTTYN), và đi làm cho Viện Khoa học Xã hội ở Sài Gòn. Tôi không biết chị Hà và anh tôi quen nhau từ hồi nào, nhưng vào thời gian này, chị hay đến nhà tôi chơi, và thỉnh thoảng, tôi còn thấy hai người đi hát chung ở Hội TTYN. Có lần tôi đi dự một buổi văn nghệ do Hội TTYN tổ chức, tôi được nghe anh tôi hát một vài bản nhạc, xong rồi ông ấy đàn cho chị Hà hát. Tôi nhớ hôm đó chị hát thật tuyệt. Tôi cố ý ngồi một mình ở một góc xa, thế mà chị nhìn thấy tôi từ lúc nào, khi hát xong, chị đi ra cửa nhìn tôi chào hỏi thật tử tế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Dần dà, tôi và chị Hà cũng trở nên quen thân, trong tình chị em. Tôi vẫn thường cỡi xe Honda, có khi đạp xe đạp thăm hai mẹ con chị. Chồng chị bị đi học tập cải tạo ngoài Bắc, nghe nói ông ấy làm thứ trưởng quốc phòng 3 ngày trong chính phủ của ông Dương văn Minh, trước khi miền Nam mất vào tay người cộng sản miền Bắc. Không biết nhà cửa của gia đình chị có bị cộng sản tịch thu hay không, chỉ biết mấy lần tôi đến thăm chị, chính quyền Việt cộng cho hai mẹ con chị ở trong một căn phòng nhỏ vừa đủ để một cái gường lớn hai mẹ con nằm, góc trong có một cái cầu tiêu và một chỗ để đứng tắm. Trên tường ngay chỗ đầu nằm, đóng một miếng gỗ lớn để thờ Phật và thắp nhang. Ngay chỗ gường ngủ, để vài cái ghế nhựa để tiếp khách. Khu nhà chị Hà ở nằm trên đường Công Lý, nay đã đổi thành tên khác. Mỗi lần tôi đến thăm chị, thấy tình cảnh này, tôi rất cảm động. Có lần chị kể, tấm gỗ trên tường làm bàn thờ Phật nhỏ, đóng không kỹ sao đó nó rơi xuống gần đầu nằm nhỏ Uyên, súyt chút nữa bể đầu. Chị vừa kể vừa ứa nước mắt. Cháu Uyên lúc đó chừng 6, 7 tuổi, người nhỏ nhắn, da thật trắng, nét mặt khôi ngô, xinh xắn. Chị ở trong hoàn cảnh kinh tế không khá gì hơn bao nhiêu người khác sau ngày “giải phóng”, thế mà nhiều khi chị phải nhịn để có tiền mua cho con gái phó mát ăn với trái chuối để giữ gìn sức khỏe cho con mình. Đúng là, “Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ. Một tình thương mến êm như tiếng đàn lời ca…” &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi vừa nghe được nguồn tin, giờ đây thì cháu Uyên đã lớn khôn, trưởng thành và thành đạt về đường học vấn ở Mỹ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế hệ của cháu Uyên cũng ngang bằng với các cháu bé Tý và hai em trai sinh đôi “cu anh” và “cu Em” con của chị Phượng. Nhà chị cách nhà gia đình tôi chỉ một bức tường kép. Chị P. người Bắc di cư trong một gia đình nề nếp nho phong, có chồng ở ngành Không quân, vào thời gian biến động 30/4/75, ông một mình ra đi vội vã, để lại vợ con. Chị ấy sống trong cảnh cô đơn kín cổng cao tường, quyết một lòng nuôi con, chờ đợi đoàn tụ với chồng. Cu Anh và cu Em là hai bé trai kháu khỉnh, dễ thương… đôi khi được bà ngoại và mẹ cho hai nhỏ qua chơi với tôi. Có lần cu Anh thấy tôi bận cái quần xà lỏn có “cửa sổ”, hớ hênh sao đó, nó lấy tay chỉ rồi la lên “Ê, cậu H. lêu lêu mắc cỡ, mặc quần lòi chim ra ngoài.”, rồi cười ré lên thích thú. Mới đây, tôi đã nghe được tin mấy mẹ con chị P. cũng đã được đoàn tụ với gia đình nhiều năm trước, các cháu cũng đều trở nên những người thành đạt và giỏi giang. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong chuyến vượt biển của anh tôi, lẽ ra anh tôi đã hứa hẹn mang theo là hai mẹ con chị Hà, thế nhưng trong thời gian lên đường khẩn cấp, chị Hà bất ngờ trở về quê thăm gia đình, nên đành phải bỏ lại. Bù vào hai chỗ mà phía chủ ghe tổ chức vượt biển “cho”, anh tôi đem theo hai mẹ con của người chị tôi ra đi. Đứa con trai của người chị tôi, ngày nó ra đi học lớp 8, lớp 9 gì đó thôi, nhưng qua Mỹ chừng 8 năm sau cháu cũng là một người thành công và tài giỏi. Ngày còn làm học sinh ở quận Tân Bình, nó là học sinh “tiên tiến, cháu ngoan bác Hồ”. Tôi còn nhớ một kỷ niệm. Một buổi sáng sớm nhân kỷ niệm lễ chiến thắng 30/4 của cộng sản, cháu thức dậy sớm, mặc áo sơ mi trắng, quần xanh, cổ choàng khăn đỏ, tụ tập trước sân nhà tôi là khu vực của phường 4, quận Tân Bình, chuẩn bị đi diễn hành. Trên vai đeo một cái trống con, hai tay cầm đùi trống, đánh trống theo điệu nhạc quân hành… Cắc cùm cùm, cắc cùm… cắc cùm cùm, cắc cùm và cả bọn đồng ca,                 &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                         &lt;em&gt;Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng, &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                         Lời bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng… &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thấy người trong nhà đứng trước hiên nhìn ra, nét mặt nó bẽn lẽn, e thẹn, nhưng tiếng trống vẫn cứ tiếp nối… cắc cùm cùm, cắc cùm… &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ Huế trở về lại nhà tôi thăm, chị Hà biết tin anh tôi đã lên đường bình an và được tàu vớt sang Tây Đức, chị mừng, nhưng trong nét mặt không che dấu được nỗi buồn, thất vọng… Tôi không biết nói sao cho phải lẽ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế rồi thi thoảng, tôi cũng đạp xe xuống thăm chị. Hai mẹ con chị vẫn thui thủi, cô đơn trong căn phòng nhỏ. Có lần, tôi gặp ông Bùi tường Huân đi học tập cải tạo trở về, đến thăm hai mẹ con chị. Trông ông ấy có phần ốm đi hơn ngày xưa, nhưng nét mặt vẫn còn tinh anh, sức khỏe tốt. Chị Hà từng kể cho nghe, gia đình vợ ông ấy đã được W. Colby đem đi cả tháng trước ngày 30/4/75!  Tôi định trao đổi với ông nhiều chuyện, nhất là chuyện Phật Giáo, và chính quyền Dương văn Minh trong mấy ngày cuối cùng, nhưng thấy chị Hà ra dấu bằng ánh mắt “đừng”, nên tôi đành bỏ qua chuyện đó. Thế mà một thời gian ngắn, sau khi tôi ra đi, tôi nghe ông BTH đã chết trước khi được lên đường đoàn tụ với vợ con. Có nên nêu ra những khúc mắc nào trong cái chết này không? Liệu cộng sản có muốn xóa những liên hệ đến một quá khứ mà họ rất e ngại? Vẫn còn là một bí ẩn… &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có lần ngồi nói chuyện với đứa cháu con chị tôi, hiện là giám đốc bộ phận nghiên cứu và phát triển (research &amp; development) của một công ty điện toán, tôi muốn ‘thử lòng’ nên nói với nó: “Bây giờ đã thành đạt rồi, thì mầy nên nghĩ đến việc làm một cái gì đó để về giúp nước!”  Đang cười nói vui vẻ, bỗng dưng mặt nó như muốn nổi quạu, trả lời tôi, “thì cậu phải làm sao cho hết cộng sản đi, rồi con về giúp nước cho.”  Nghe nó trả lời, tôi tiu ngỉu. Phải suy nghĩ thật kỹ mới hiểu được vì sao một đứa bé từng choàng khăn đỏ, có tiếng “cháu ngoan bác Hồ” mấy chục năm về trước mà giờ đây nó phát biểu được những lời như thế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hôm nay, vào những ngày đi vào mùa Xuân nắng ấm, tôi bỗng nhớ tới chị Hà và tiếng hát của màu xanh qua bản Lòng Mẹ chị đã hát tặng tôi vào một phần tư thế kỷ qua. Không phải chỉ giọng hát mà cả nội dung của bài ca cưu mang một lòng mẹ bao la, dạt dào. Đó là thứ lòng mẹ rất Việt, ngọt ngào, trái ngược với thứ ‘lòng mẹ tuyên truyền’, “Mẹ già cuốc đất trồng khoai. Nuôi con đánh giặc đêm ngày...” Không có “thứ” lòng mẹ nào lại chỉ muốn suốt đời ăn khoai sắn để lo cho con trai ngày đêm đi đánh giặc!  Đó là thứ lòng mẹ “vô hậu”, không tương lai. Và những đứa con có hiếu để thì không thể để cho mẹ mình khốn khổ, thê lương, “áo rách sờn vai” hoài như thế mãi. Phải biết làm cho người mẹ hiu hắt trở thành một người mẹ thuần hậu, miệng nở nụ cười thỏa thuê với đàn con khôn lớn, nên người hữu dụng cho tương lai, để lòng vẫn hoài mong đàn con “quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu” một ngày đẹp trời nào đó. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nghĩ về sự thành đạt của các người cháu, con chị Hà, các con chị Phượng, con chị tôi và con em của hàng ngàn, hàng vạn người mẹ khác nơi đất khách quê người… tôi bỗng nhớ đến các cháu thiếu nhi đang ở nơi quê nhà “buồn thiu” trong học đường với sự phân chia, kỳ thị chính trị -nửa tinh vi, nửa trần truồng, thô bạo. Các cháu hầu như không có những cơ hội may mắn nào để xuất ngoại, để có một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn. Các cháu sẽ không còn mang những nỗi sợ hãi như một đám trẻ trong khu xóm nhà tôi, ngày tôi còn ở trong nước, chúng vẫn hay tụ năm, tụ ba, hát đùa chơi với nhau:                        &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                        &lt;em&gt;Đêm qua em mơ gặp bác Hồ,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                        Tóc bác rụng, râu bác trụi lơ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                        Em kinh hãi run run… thưa bác,&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                        Xin bác Hồ… hãy tha cho con &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                        Xin bác Hồ… hãy tha cho con… &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Người chết thì không thể “tha” cho ai được, nhưng chính người sống thì có thể mang lại cho thiếu nhi Việt Nam một tương lai tốt đẹp, được đối xử bình đẳng, được học tập bình đẳng, được nâng đỡ một cách công bằng, không phân chia giai cấp, quá khứ chính trị của cha mẹ chúng.  Phải không, thưa các bác còn sống! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn văn Hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Friday, March 16, 2007&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-343447120921159716?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/343447120921159716/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=343447120921159716' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/343447120921159716'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/343447120921159716'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/tieng-hat-cua-mau-xanh.html' title='Tiếng hát của màu xanh'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-7413364378844325998</id><published>2010-01-25T10:06:00.000-08:00</published><updated>2010-01-25T10:10:18.352-08:00</updated><title type='text'>Giã từ quận Cam: nơi cánh cửa cuối cùng</title><content type='html'>© copyright giaodiem.us - 2009 | ( &lt;em&gt;Anyone, who intends to copy this free article - must copy the one "it says: the last-edited article", together with active-URL. That's the true copy by law&lt;/em&gt;. --nvh. ) &lt;br /&gt;___________________________________________________________________________________&lt;br /&gt;Saturday, August 01, 2009&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;nghĩ vắn trong ngày | Giã từ quận Cam: nơi cánh cửa cuối cùng &lt;br /&gt;| "the last-edited article" August 04, 2009&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;http://giaodiem.us/us-2009/3_2009/01.8.2009.nvh.giatuOrange.htm &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Tôi quyết định đến quận Cam, một thời gian ngắn sau khi từ cõi địa ngục Việt Nam trở về. Trước đó vài tháng nghe nhắn tin qua email ông Lý khôi Việt (tức Lê hiếu Liêm) bị đột tử. Một kẻ hữu thiền-đốn-ngộ lâu năm, nghe tin ấy chắc xót xa; tôi một người  thiền-chưa-đủ nên khi tin buồn ấy thì chợt tỉnh cơn mê, chỉ thấy “cõi trần gian là cõi tạm”.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi email cho chị Thái kim Lan nhờ xác nhận nguồn tin ấy, nhận được hồi âm với lời chia buồn tôi mới tin là thật. Tôi không đi dự lễ tang, không làm gì cả, không xum xoe khóc lệ mà chỉ phóng vài ‘hạt nhân điện’ nhờ không gian –chia buồn dùm. Biết trước là nơi lễ tang ấy sẽ có nhiều trí nhân, thức giả, Phật tử ‘truyền tử lưu tôn’, ‘như thị hư văn’, thương vay khóc mướn. Cõi trần gian là cõi dễ lãng quên, có gì đâu mà bi lụy!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi chợt nhớ tới ‘ông sư’ từ bên Pháp chu du qua nước Mỹ có tục danh là Phan Tấn Hùng, bút danh Đỗ Thuận Khiêm, chấp Pháp danh là Thích Pháp Hiền, dịch giả danh là Pháp Thuận. Một đệ tử của ngài Thích Thiện Châu, mệ Mạn Đà La, và có liên hệ giây mơ rễ má gì tới ‘bà Dung’ của Đại sứ quán nước Cộng hòa XHCNVN hay không, thì chưa rõ.  (1)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi gặp “ông sư” này từ ngôi chùa Quảng Đức ở San Jose (trong thời gian tôi đang làm web giaodiem.com, .net) , hình như đây là nơi ‘cánh cửa đầu tiên’ của ngài Thích Pháp Châu trên dặm đường Phật nghiệp. “Sư” Pháp Hiền có cái miệng dẽo như kẹo mạch nha xứ Quảng, âm thanh thánh thót ‘ong bướm’ gót hài chân không miền Phú Yên. “Sư” có cái tật lạ là có một ngón tay trỏ hình chữ thập, mà theo sách tướng số tôi không dám nói ra sợ phạm thượng vào đấng Tam Bảo.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi du thiền Santa Ana không phải vì nghe lời ngọt bùi của “sư” hứa hẹn, bán rẻ hay cho không cái mobilehome “sư” đang ở để trú tấm thân, sau khi bị ‘tổ Tàu’ trát ở Sài Gòn. Có thể sư nghĩ tôi là thằng đã cháy túi, nhưng chắc còn rủng rĩnh đồng tiền ‘bất hợp pháp’? Nếu đúng thế thì chắc “sư” nhầm, “sư” nhầm vì sư nghĩ non.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi về khu mobilehome của “sư” tọa lạc bên góc đường First/ Fairview, phía đông nam thành phố Santa Ana. Ở với “sư” được mấy ngày, tôi mới “như thị” được ‘bản lai diện mục’ của một kẻ khoác áo nâu sòng. “Sư” ăn nói tía lia, sư  thuyết giảng chính trị, chính em, sư moi móc chuyện nước non ngàn dặm, chuyện thế sự nhân tình, chuyện dòng họ "Thân trọng"... Không giống như những ‘thủ pháp’ của các sư khác, thí dụ như sư Nhật Từ, là người được huấn luyện bài bản (có soạn Pháp án, kỹ thuật dùng chữ, phóng câu trước), hay sư Thích Chơn Quang nhờ ‘điềm nhiên tọa thị’ mà ngộ được cụ Hồ-Chí-Minh-là-Bồ-Tát; “sư” Pháp Hiền thích “ngã thị” mình là kẻ cố vấn chuyên ngành về đối ngoại cho các vị lãnh đạo đồng-hành-với-dân tộc. Vì cống cao ngã mạn như thế, “sư” quyết tâm khuất phục kẻ khác bằng tài trí phi thường, thông kim bác cổ.  Thỉnh thoảng, “sư” có người bạn tâm đầu làm nghề ‘construction’ là Trương hồng Hải, có cái mặt bèn bẹt giống như anh chàng Nguyễn thành Trung ở trong khu cư xá 324 xóm nhà tôi, đường Võ Tánh nối dài Sài Gòn cũ, đến tham gia ý kiến cho không khí thêm phần õm tỏi. Tôi không dè, cậu construction này và sư Pháp Hiền có mối liên hệ chí-tình với chú Trần văn Thông ở Texas (mà chú TVT (2) này là một loại ‘kiện tướng’ khác, nên tôi xin đặt tên là những cư-sĩ-phụ-đạo. Cư-sĩ-phụ-đạo là kẻ uyên thâm chánh Pháp không thua gì sư chánh pháp, nhưng “đầu không trọc'’ để còn phải đi mần ăn, kiếm tiền, vợ con này nọ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;*  *  *&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Những ngày mùa Đông trước Tết ở San Jose, trời lạnh gắt. Tôi lái xe đi thăm bà mẹ. Trước khi đến, ghé quán phở Như Ý mua cho mẹ một tô phở-to-go, ai dè có kẻ gọi: ‘Ông Hóa, ông Hóa’. Giật mình ngó lại, hóa ra ông Phong-râu đang ngồi ăn phở với một người bạn nào đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ông Phong có biệt danh là Phong-râu vì có bộ râu mép khá đậm, có một giọng Bắc kỳ lè nhè, nhừa nhựa. Theo chỗ tôi biết, Phong-râu có theo học khóa I (?)/ hoặc khóa II Đại học Chiến tranh Chính trị, Đà Lạt.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“Trời ơi, lâu ngày quá mới gặp lại ông. Không biết ông mất tích đâu rồi. Thằng Quỳnh nó rất muốn gặp ông. Bây giờ ông cho tôi xin số phôn của ông. Các ông là người Thừa Thiên với nhau mà. Ông có biết chuyện thằng Lý Tống nó chơi thằng Quỳnh không?”.  Phong-râu nói một hơi thật dài. Trông ông Phong mập hẳn ra, bệ vệ… khác với điều tôi nghĩ về tin ông bị tai biến mạch máu não.  Trao đỗi với Phong-râu một hồi, tôi chào từ giã. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi quen biết ông Quỳnh khi ở Mỹ là qua một người bạn khác là Mạnh (Lê gia). Mạnh trước đây từng làm thông-dịch-viên cho một cơ quan Mỹ ở Sài Gòn. Khi đến tạm trú ở San Jose, tôi gặp lại Mạnh trong một quán cà-phê, Mạnh mới giới thiệu tôi với Quỳnh. Lần hồi mới biết Quỳnh là một mechanic giỏi nên thỉnh thoảng tôi từng nhờ sửa xe, hay đi đấu giá xe cũ dùm. Quỳnh là một tay rất khí phách giang hồ, chơi đẹp với anh em bè bạn. Còn Lý Tống tôi chỉ nghe là em của Lê xuân Nhuận –người mà Nguyễn đắc Xuân khi đến Mỹ có nhờ tôi liên lạc, và đã hẹn gặp nhau ở một quán ăn Dim-Sum Tàu ở Menlo Park. Thế thôi. Chuyện chẳng có chi để mà “ầm ĩ”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* * *&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thời gian tôi ở Việt Nam (10/07-8-2008) sau mùa Tết Âm lịch, tình cờ tôi đọc được một số bài viết lời qua tiếng lại giữa Lý Tống và Trần mạnh Quỳnh trên Net, một điều đáng ngạc nhiên và rất xấu hỗ, không chỉ riêng cộng đồng người Việt ở miền Bắc California, mà còn tập thể những người chiến binh ngày hôm qua từng là tù tội cải tạo dưới chế độ Cộng sản. Vì sao ra nông nỗi tôi không hiểu được, và thật tâm cũng chẳng muốn tìm hiểu.  Từ Việt Nam trở về Mỹ, tôi có gặp anh Định (chủ công ti sửa chữa computer Sunrise) là một cựu sĩ quan tình báo hải quân, tôi có hỏi qua câu chuyện. Anh Đ. rất dè dặt, chỉ trả lời một câu sơ sài, “thằng ăn không được nên nó ganh đó anh.”  Câu nói đơn sơ chừng ấy nhưng lại chứa chất nhiều phiền não.  Tôi không muốn nghĩ xa hơn nữa.  Giả như điều đó là một phần khúc mắc của sự thật, thì quả Lý Tống là một thằng-ăn-mày – chỉ hơn Nguyễn cao Kỳ một gang tay thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vài ngày sau khi gặp Phong-râu, ông TMQ liên lạc với tôi bằng cell-phone và mời tôi tới quán cà phê (tên gì đó quên rồi, nghe nói là của bánh mì Ba Lẹ.) Tôi có kể cho ông Q. nghe hôm trước thằng Hà trọng Đoan mời tôi tới nhà uống rượu, có cả Lý Tống nữa. Tôi không muốn tham dự chút nào cả, vì hơn mười năm qua tôi không hề giao tiếp với nhân vật HTĐ. Họ có ý đồ gì đây?  Khi đến nhà vợ chồng Hà trọng Đoan, thấy trên bàn tiệc có nhà thơ Nguyễn lập Đông, Lý Tống (đây là lần thứ hai tôi gặp mặt), một cặp vợ chồng khác tôi chưa hề gặp bao giờ. Trong lúc trò chuyện, nghe tên Lý Tống có vẻ ‘nổ’ và ồn ào quá, nên hơi bực lỗ tai. Một lát sau, tôi rời bàn tiệc để đi đái, lúc trở lại bàn thì cả Lý Tống và Nguyễn lập Đông có ý nhắm vào tôi –kế tục nhau nói nêu lên vấn đề: Sao không chịu nhận người ta làm ‘thầy’, nếu không mọi chuyện đã xong rồi, tụi Cộng sản nó ngu thấy mẹ biết gì đâu… Tôi bỗng thấy nóng lên ở hai mang tai, tính lấy một chai bia không nện một cái vào đầu Nguyễn lập Đông nhưng dằn lại được, tôi hỏi ngược : Các anh hãy cho tôi một thí dụ cụ thể, ai muốn làm ‘thầy’ tôi? Và ‘thầy’ về phương diện gì đã chứ?... Tôi lại đặt vấn đề với Lý Tống –Tại sao ‘ông’ không chịu nhận lời thách “đấu súng” của TMQ, nếu quả thật ông là người có khí phách anh hùng? Lại đề cập thêm bài báo của Nguyễn hữu Liêm về ông Q. Như thế, tôi vừa vô tình vừa hữu ý phá tan mưu định của bữa tiệc nhậu này, cũng là lúc tôi vờ đóng kịch nổi nóng, để có cớ thoát ra khỏi bàn tiệc.  Khi tôi bước ra bên ngoài, đèn đường đã bật sáng, gió thoảng từng cơn mát lạnh.  Xin cáo biệt loại chính trị bia nhậu, đảng phái đàn ca xướng hát của người Việt loại này.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;* * *&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi đem chuyện "nhóm rượu" hôm trước kể lại cho Quỳnh nghe (và có nhấn mạnh), tôi gặp một tay đàn ông lạ mặt không được giới thiệu là ai nhưng trông giống thằng Nguyễn thành Trung quá. Nguyễn thành Trung là nhân vật ai cũng biết rồi. Khi hắn được Đảng cho vào ở khu cư xá của xóm tôi -căn nhà cướp giựt từ gia đình một ký giả đã bỏ đi Mỹ (vợ Việt chồng Mỹ). Tôi nói “cướp giựt” bởi hắn và vợ con chỉ được dọn vào ở sau khi chính quyền cố tình trục xuất một người thân (là mẹ) trong gia đình còn ở lại, nhưng không có tên trong hộ khẩu ra khỏi nhà. Người Mẹ ấy đã khóc lóc van xin tội nghiệp, nhưng đồ đạc quần áo đã bị liệng tung ra trước sân nhà rồi, chịu thôi. Một hành động hèn hạ tàn nhẫn rất thông thường của chế độ Bắc-cộng trị sau năm 1975.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;‘324’ là một khu cư xá trang trọng, đẹp và yên tĩnh. Trước đây là một khu nhà do ông Phan văn Đáng –một tay kinh tài Việt cộng (gọi là: ‘tư sản dân tộc’) xây dựng nên.  Sau 1975, ông Đán này sáng mắt trước chế độ mới, uất hận. Tôi nghe có nguồn tin nói sau đó ông ta tự tử chết.  Mỗi lần tôi chạy xe Honda ra khỏi nhà (căn số 18) là phải chạy qua trước mặt nhà của Nguyễn thành Trung, tôi thấy hắn có khuôn mặt bèn bẹt, mập ú trông khó ưa, nên tôi không bao giờ chào hỏi hắn, dù chỉ là cái gật đầu. Vì vậy, tôi chỉ nhớ khuôn mặt hắn một cách mường tượng, không rõ nét. Riêng mụ vợ hắn là một ‘con mẹ’ Nam kỳ, trông vừa nhà quê, vừa ‘mất dạy’. Mất dạy vì bà ta ăn không rảnh rỗi ngồi lê đôi mách, đi tìm bươi móc các gia đình nhà người khác, nếu có gia đình nào thuộc diện “ngụy” nặng hay tỏ ra bất mãn, chống đối chính quyền địa phương là sẽ đi báo cáo với công an.  Cách nhà của Nguyễn thành Trung mấy căn, có bà vợ của ông Lành (họ Phan/ Võ?) -một sĩ quan cấp đại úy làm an ninh phi trường Tân sơn Nhứt (dưới quyền của Lưu kim Cương thì phải). Mấy ngày biến động dồn dập trước 1975, ông Lành này vì tham lam, đi về Đà Nẵng buôn lậu và thu tóm của cải không may chết mất xác ngoài đó. Bà Lành này và vợ Nguyễn thành Trung hay se sua đôi mách chuyện nhà người khác với nhau, nên rất hợp ‘gu’ và thân tình. Một phường-yêu-quái sản sinh sau ngày Bắc Việt đô hộ dân Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Như đã nói, tôi kể chuyện có gặp một thằng đàn ông có khuôn mặt ‘bèn bẹt’ giống thằng Nguyễn thành Trung cho TMQ. nghe chơi, nhưng với sự dè dặt và nhấn mạnh có thể tôi nhầm. Tôi chỉ phối hợp sự kiện và nguồn tin được đưa ra trên web của ngài giáo sư Trần hữu Dũng cho biết thằng Nguyễn thành Trung –kẻ trước đây đã lái Boeing đưa Lê đức Anh lần đầu tiên ghé Mỹ, đang đến Mỹ dự huấn nghiệp phi hành trong 10 ngày để trở về lái thuê chiếc phản lực riêng của thằng 'tử sản đỏ' Hoàng-Anh Gia-Rai ở Kontum. Không dè vài hôm sau trên diễn đàn Phố Nắng tung tin ‘thằng Lý Tống gặp gỡ với thằng VC Nguyễn thành Trung tại nhà thằng Hà trọng Đoan’. Tôi giật mình, đã nói là tôi có thể nhầm, vả lại điều đó nếu là sự thật thì cũng không có gì quan trọng cả. Nghĩ thêm, mới hiểu ông TMQ. này muốn lấy một thông tin để ‘trả đũa’ tay Lý Tống. Như vậy, thì cũng hơi ‘non đòn’ rồi. Lẽ ra, muốn tìm hiểu mục tiêu của âm mưu phải vận dụng một lôgic xa hơn: Nếu sự có mặt của Nguyễn thành Trung tại nhà Hà trọng Đoan (+ Lý Tống + nhân vật…) hôm đó là đúng thì phải nắm vững yếu tố tại sao có sự góp mặt đó. Trên thực tế, xác định mối quan hệ giữa Hà trọng Đoan (đệ tử của Cao thế Dung –người mà ông Lê trọng Văn từng ‘dập’ là ‘con thò lò chính trị’, ‘con thò lò’ Cần Lao, tiến sĩ CETA (chương trình huấn nghệ: Center for Employment Training Act) v.v… với sự chế nhạo) và các nhân vật kia.  Chắc chắn Cộng sản không bao giờ “ưa” hay chấp nhận những nhân vật như Cao thế Dung, dù cho ông mang nhãn hiệu là Quốc Dân Đảng hay Duy Dân, Dân Duy gì đi nữa. Còn nhân vật Nguyễn lập Đông chỉ là tay ‘ké nhóm’, không thành vấn đề.  Hai người đàn ông lạ mặt, ít nói kia mới là vấn đề!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giả dụ “dữ kiện” Nguyễn thành Trung không đúng sự thật, thì tại sao có bản tin từ trong nước post lên diễn đàn của Trần hữu Dũng vào đúng một ngày sau đó? Có âm mưu nào liên hệ từ nhóm của Trần hữu Dũng (một khuôn mặt mà cộng đồng hải ngoại đã quá rõ những hành tung của họ) + nhóm Cao thế Dung + nhóm thân-Hà-Nội ở Mỹ?. Các sự kiện liên hệ nói trên nhằm vào âm mưu, mục đích gì?  Tại sao xảy ra trong lúc này, tại sao người được mời mọc là tôi?  Hơn 10 năm qua, tôi không hề gặp gỡ hay quan hệ gì với họ? Sự có mặt của Lý Tống là thế nào? Đồng thời, phải duyệt xét lại các ý đồ giữa anh-em-cùng-cha-khác-mẹ Lý Tống-Lê xuân Nhuận (vợ ông Lê xuân Nhuận có quan hệ ruột thịt với ông Lê văn Hảo –người đã tự thanh minh một cách tội nghiệp về biến cố tàn sát Mậu Thân Huế, nhưng không hề được để yên.)  Nếu, nguồn tin “Nguyễn thành Trung đến Mỹ…để được huấn nghiệp bố túc về phi hành” chỉ là tin phịa, thế thì tại sao lại được Trần hữu Dũng, (đồng thời nối kết mối quan hệ của Dũng với nhóm Nguyễn ngọc Giao ở Pháp) có sự phối hợp trong-ngoài nào không? , có âm mưu của cánh Cộng sản phía Nam-thân Trung cộng hay không?  Hay tất cả chỉ là sự tình cờ?. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chính vì vậy, khi gặp cái mặt ‘bèn bẹt’ Truơng hồng Hải tại nhà của “sư” Thích Pháp Hiền-tự Phan tấn Hùng-Đỗ Thuận Khiêm, thì tôi liên tưởng ngay tới nhân vật ‘bèn bẹt’ giống tên Nguyễn thanh Trung’ tại nhà Hà trọng Đoan tối hôm đó.&lt;br /&gt;Trú ngụ trong căn mobilehome của sư Pháp Hiền chưa tới một tuần, tôi âm thầm tìm cách thoát đi ra khỏi nơi này tức thì. Anh ta là một mẫu người quái dị, dơ dáy, hôi hám, một cái áo một cái quần mặc suốt tháng không thay, không giặt, suốt ngày mượn phim Tàu về đặt vào cái desktop và chúi mắt vào từ sáng tới khuya ngoài giờ ăn và ‘phách tấu’. “Sư” nói là “sư” phải nghiên cứu lại cách đối thoại tiếng Việt các miền trong nước để khi trở về không bị bỡ ngỡ.  Thỉnh thoảng tôi thấy trong cầu tiêu đầy cứt của ai đó vừa đi nhưng để vậy không dội nước. Và, "sự cố" đó xảy ra nhiều lần. Tôi chợt nghĩ, ông này không đúng nghĩa là “Sư hổ mang”, phải gọi là “Sư súc sinh” mới phải.  Thêm một kinh nghiệm không phai mờ của tôi về ‘cái đầu trọc’ và ‘chiếc áo nâu sòng’ –hai thứ ấy không thể làm nên một vị Tăng Phật Giáo đúng nghĩa được.  Và giờ đây, Mặt Trận Tổ quốc của Đảng CSVN lại muốn đồng-hành-với-dân-tộc theo kiểu xây dựng một đội ngũ Tăng-tương-tự !?. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;*  *  * &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào cuối năm 2005, có lần Trần tiễn Huyến (hắn từng đứng tên Chủ tịch của Non-profit Organization, Từ thiện Phật Giáo Giao Điểm) mời tôi và một nhóm đi ăn ở quán Kiên Giang trên đường Monterey, San Jose (nhấn mạnh: Kiên Giang, quê hương của Nguyễn tấn Dũng đấy!)  Buổi chiều hôm ấy, có mặt : tôi, Trần tiễn Huyến, Nguyễn thanh Giản, cụ già Đoàn Nhật (*), Phạm trọng Nhân, Phan mạnh Lương (tôi không nhớ chắc có ông này?). Như có sự dàn cảnh và tính toán trước, và bằng kỹ xảo không để cho người nghe kịp suy nghĩ, Huyến  phóng ngay một câu hỏi nhắm vào tôi khi vừa bước ra khỏi xe:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“-Ai bắn thằng Toại?”&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong giác quan thứ sáu vừa ánh lên một hào quang trong đầu, tôi phóng ra một câu trả lời cũng ngắn gọn không kém. Rõ ràng, Huyến không phải là loại “đối thủ” của tôi. Câu trả lời đó như thế nào cứ để yên đó. Huyến và những nhân chứng ấy có mặt ở đây, ngay tại thành phố San Jose này!! Hôm ấy, trong buổi ăn uống, Huyến ăn nói huyên thuyên rất ồn ào, phần lớn đề cập đến tên Nguyễn tấn Dũng và tường thuật những công trạng y giết anh Trần văn Bá và nhóm kháng chiến chống lại Hà Nội mà được làm Thủ tướng (phần lớn là kiến thức từ báo chợ -như ‘Thằng Mõ’ chẳng hạn.)   (3)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong con người của Huyến mang nặng một bản chất Tàu-Minh-Hương, từ giòng họ của Trần tiễn Thành truyền lại. Chính ngay cụ già Trần trọng Phúc là chú của y, cũng đã kể cho tôi nghe nhiều về con người thật của Huyến với sự khinh bỉ người cháu mình.&lt;br /&gt;Tôi tự nghĩ trong đầu mình, “Cả bọn hay thằng cha Huyến lưu manh này, nó muốn ‘dùng tôi’ để làm một săng-ta chính trị gì đây?"  Tại sao hắn gài tôi vào câu hỏi đó mà không là người khác. Những người thân cật, gần gũi, đồng hành của Đoàn văn Toại như: Nguyễn hữu Liêm, cha con Đỗ hữu Tài (Đỗ Mậu lúc xảy ra biến cố (1989) vẫn còn sống), Vũ thế Ngọc; hay những tay đầy kinh nghiệm chính trị như : Đinh thạch Bích, Nguyễn văn Chức (kể cả Lê trọng Văn) và vân vân.. mà lại đi hỏi tôi. Trước khi Huyến hỏi tôi câu hỏi đó thì phe nhóm của y như : Phan mạnh Lương, Hồng Quang, Hồng Phấn…và bọn tình báo cộng sản ở Mỹ đã biết câu trả lời từ lâu rồi mà. Hay có phải vì Trần tiễn Huyến muốn lập công với Đảng (như việc đem Trần tiễn Khanh + website vệ tinh bão lụt + công trình viết software dịch Bộ Đại Tạng Kinh để chưng vào tủ kiếng “tổ quốc”, trình với “ôn Trí Quang” bản dịch Kinh Hoàng Sám (Huyến dịch) và đã nhờ tôi phổ biến lên website giaodiem.com từ lâu -làm món quà dâng “ôn”?).   Vậy thì, tại sao họ lại đẩy tôi vào thế nạn nhân?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Goddamn it! You guys son-of-a-bitch! &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đấy là hành vi gài bẫy lọc lừa và bẩn thỉu của một nhóm người đeo hàm Phật tử, một loại Phật tử Tàu-nô, nói đích danh là tập đoàn “Từ Thiện Phật Giáo Giao Điểm” của Phan mạnh Lương, Trần tiễn Huyến (hai kẻ nối tiếp nhau làm Chủ tịch), của (Bùi) Hồng Quang, và một nhóm bồi bút khác… mượn danh “từ thiện”, xin tiền, xin sữa Insure, xin thuốc Tây… của Tin Lành, nhưng lại ẩn danh để chống lại đạo Tin Lành (vì đạo Tin Lành là đạo của Đế quốc Mỹ!?).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;*  *  *&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ngày tôi về Việt Nam cũng lại dính vào đường dây của nhóm người bẩn thỉu này: Mục đích gặp Minh Mẫn là để cho y tiền như lời đã hứa với Nhật Từ ở Mỹ, để rồi y “gài” tôi vào thế phải đối diện với Đại tá Công an Tôn giáo Vũ Thắng (người chỉ huy trực tiếp của MM), và bên cạnh đó lấp lánh bóng dáng của tên Thiếu tướng Trần Tư (Cục trưởng Cục Công an- An ninh Xã hội).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Rõ ràng đó là một tập đoàn tay sai của bọn Trung cộng qua Đảng CSVN, từ tổ chức Từ thiện ngoài nước cấu kết với trong nước -núp bóng dưới danh nghĩa hoạt động tư vấn pháp lý, như: Văn phòng Luật của Võ văn Quới – có những mắc xích với Thích Nhật Từ, Thích Chơn Quang, Chùa Hoàng Pháp (Hóc Môn), Phật Học Viện Phật Giáo ở đường Nguyễn Kiệm, Gò Vấp, Chùa Giác Ngộ, báo Giác Ngộ, báo Văn Hóa Phật Giáo, và nhóm ‘ACE’ từ Mỹ - qua tới Úc và vào trong nội địa Việt Nam.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Minh Mẫn kể với tôi, y đã bị tù tội gần 10 năm “vì lý do” trước đây là thư ký riêng của Hòa thượng Thích-Quảng-Độ-chống-nhà-nước, nên khi ra khỏi tù phải sống lây lất không có giấy tờ tùy thân. Thế mà, ngay tại Hà Nội thì lại được Đại tá Công an VT. cấp Hộ chiếu để có thể đi nước ngoài hoạt động “Phật sự” (ngay trước mắt tôi -khoe!).  Phải chăng đó là chiến thuật “ẩn mình để hóa thân” của Công an tôn giáo VN?  Phải chăng đó là một tập đoàn yêu nước, thương dân, “bảo vệ đạo Pháp và Dân tộc”?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo bức điện thư mà sư C.L., C.K. và anh S. Tân-Phú báo cho tôi biết là MM đã hại tôi vào tháng 10/2008 khi tôi đã về Mỹ, là do nguyên cớ thế này : Một hôm, Minh Mẫn hẹn hò tôi, sư CL., sư CK. đi Củ Chi (vùng đất ‘thép’ của Việt Cộng, đa số dân định cư từ vùng Nam-Ngãi) ở một khu rừng cây thư giãn (ngày xưa có thể là chiến khu, hầm bí mật) có những chòi lợp lá kín đáo cho những cô cậu nào thuê vào ‘tươi mát’ thân xác.  Sau khi dàn xếp mọi chuyện, MM giả vờ để quên cái cell-phone trên võng nằm, nhưng có lẽ đã mở nút thu âm bỏ đi đâu đó để khỏi phải nghe câu chuyện. Tôi trao đổi thẳng thắn với anh S. Tân-Phú, sau khi được anh ấy đề cập:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Một, bàn chuyện về Ngô đình Nhu: Tôi nói rằng ông Nhu là tay yêu nước. Hành động chính trị đi đêm để thỏa hiệp với Cộng sản Bắc Việt trong thời gian đó là đúng nếu ông thật tâm làm như vậy để chuẩn bị một hiệp thương chính trị, thay vì phải đi vào con đường chém giết nhau vô ích (và nếu như Hồ chí Minh không phải là tay quỷ quyệt chính trị mà cùng đồng lòng yêu nước.)  Tôi nói tiếp, ‘... nếu sự hiệp thương chính trị đó xảy ra, các anh cũng có thể thấy được viễn cảnh chính trị là –dân ai ở đâu, cứ ở nơi đó. Dân miền Bắc ở yên ở phía Bắc, ai dân Nam đã tập kết ra Bắc thì trở về quê quán, không gây ra những xáo trộn xã hội-đời sống đưa tới những thù hận, bất mãn giữa người dân với nhau như trong hoàn cảnh hiện tại. Các anh không thấy điều đó sao?’  Những suy nghiệm của tôi từ những hiểu biết hoàn toàn sách vỡ, từ giác quan thứ sáu, từ tâm lòng… Tôi nghĩ với tâm chất của Ngô Đình Nhu, nếu ông ta không phải là tín đồ đạo Công Giáo, ông có thể dễ dàng chấp nhận Chủ nghĩa Cộng sản lắm!   Nói chung, đó là những nhận xét, ý kiến chủ quan, thành thật của tôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Chuyện thứ hai là về ông Đoàn văn Toại : Tôi không thân với ông Toại, chỉ gặp ông ấy đôi ba lần, qua những nhân vật như Nguyễn hữu Liêm, Lê hiếu Liêm, Nguyễn công Hoan. Thỉnh thoảng tôi gặp Thái quang Trung và bộ phận tháp tùng –nhưng tầm cỡ của họ cao hơn nhóm Hoan-Tảng-Toại. Dĩ nhiên là ông Toại có liên hệ đặc biệt với Nguyễn công Hoan (cựu dân biểu VNCH kiêm luôn cả dân biểu Việt cộng sau này) (4) , Vũ thế Ngọc; còn những liên hệ của Toại với cha con Đỗ Mậu, Đỗ hữu Tài.. ở miền Nam California như thế nào thì tôi không rõ.)  Tôi nói tiếp với anh S. Tân-Phú: ‘Như hoàn cảnh của anh là một người đi theo cách mạng nhưng bây giờ bất mãn chế độ này (thế hệ anh S.Tân Phú ngang ngữa với Phan chánh Trực, Trương tấn Sang v.v.), và chính anh đã chứng kiến những cảnh giành dựt quyền lợi, chức tước, nhà cửa cơ ngơi giữa bọn cán bộ Bắc với nhau ở miền Nam (có khi đổ máu hoặc chơi nhau rất hèn), hay giữa người miền Bắc và người Nam… anh đã gọi bọn họ là những kẻ bẩn thĩu, đê tiện không chịu được. Huống hồ là những hoàn cảnh khổ đau của quân nhân viên chức của chế độ cũ từ những hành hạ, hủy hoại dần mòn thân xác khi còn ở trong trại tù học tập cải tạo cho đến khi được về nhà… chỉ còn biết hy vọng, chờ đợi một ngày nào đó được ra đi đến miền đất tự do. Ra đi cho chính họ và còn cứu vớt thêm cả tương lai của vợ con nữa. Đó là niềm hy vọng cuối cùng để sống. Thế mà, nhóm của ông Toại lại tổ chức ra mắt rềnh rang ở Hoa Thịnh Đốn, in báo, phổ biến thông tin trong cộng đồng lại còn dựa vào một vài nhân vật nào đó đề xuất dự án lên Quốc hội Mỹ, thay vì để cho các người tù cải tạo và gia đình vợ con họ sang Mỹ -là một gánh nặng cho chính phủ Mỹ, vì đa số họ những người đau yếu và bệnh tật… , thì nên cho mỗi người tù cải tạo một số tiền là 5 ngàn (hoặc 3 ngàn đô Mỹ?) để họ có một số vốn nhỏ làm ăn sinh sống. Đó là một đề án vô lương tâm, quỷ quyệt. Tôi cho rằng đó cũng là âm mưu đàng sau của Đảng Cộng sản nữa (lúc ấy đang bí mật thương thảo để bang giao với Mỹ), họ (Cộng sản) tiên liệu viễn cảnh gia đình vợ con những người tù cải tạo khi sang đất tự do rồi, họ sẽ trở thành một lực lượng quần chúng đấu tranh chống lại chế độ Cộng sản. Và, như hiện tại các anh đã thấy, những gia đình H.O. đi qua Mỹ, hay các nước Âu châu.. đã chứng minh ngược lại.  Đa số họ đã ổn định nếp sống dễ dàng, và nhất là các con cái họ đều là những người thành công về đường học vấn và nghề nghiệp.  Mặt khác, sự tiên liệu của Cộng sản cũng đúng luôn trên mặt trận chính trị hiện nay, chính lực lượng những người tù cải tạo ở nước ngoài là thành phần đã chống lại chế độ Cộng sản có hiệu quả, và hơn thế -họ đã chiếm được cảm tình cũng như hậu thuẫn của các chính khách và cộng đồng bản xứ. Họ không hề là gánh nặng của bất cứ chính phủ ở Tây Phương nào cả, mà còn đóng góp nhiều trong đời sống xã hội-văn hóa, thuế má cho các quốc gia sở tại.  Như vậy, nhờ hành động bạo hành ông Toại, đã phá vỡ luôn mưu đồ độc ác của ai đó, (mà chắc chắn đàng sau là có cộng sản giật dây, điều động.)  Theo ý kiến của tôi, ông Toại là người “hiền” thôi, nhưng phải có kẻ độc ác, mưu hiểm nào đó đứng đang sau lèo lái… Cho nên, cả cộng đồng người Việt là nạn nhân của Cộng sản ở ngoài này không ai chấp nhận, tiếc thương gì ông Toại (kể cả việc ông ấy chết !); vô hình chung những kẻ bạo hành kia chính là “đại ân nhân” , là những anh hùng của người tù cải tạo dưới chế độ Cộng sản đang sống ở nước ngoài.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau khi nghe xong ý kiến của tôi, anh S. Tân-Phú, thầy C.K. im lặng… như chia sẻ và đồng tình, cũng đúng là lúc ông Minh Mẫn đi đâu đó, trở lại bên chiếc cell-phone!!!&lt;br /&gt;Thế mà ở ngoài này, vẫn còn có những con rắn độc thò lò đuôi phục vụ Cộng sản, vẫn cố tìm cách gài tôi vào thế phải “tố cáo”?  (tố cáo ai? hay là muốn tố cáo tôi?). Đó chính là hành động của “một phần tử” Phật Giáo thân Trung Cộng, bẩn thĩu gian manh, ngụy trang kinh kệ, tụng kinh gỏ mõ nhưng lòng dạ như những bày lang sói. Chúng không phải là người Việt Nam, chúng là phân tử có liên hệ huyết thống với Tàu Cộng.  Tôi thách thức và chờ đợi họ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vài phụ chú:&lt;br /&gt;(1)  Theo bài báo “Chiến Dịch Hoa Hồng Đỏ Hải Ngoại của CSVN” của Hoàng Văn Trác đăng trên Ngày nay, số 160, 01/6/1988 :&lt;br /&gt;“… Sau khi thi hành bản án tử hình Đinh Bá Thi tại Phan Thiết, Bộ Chính trị đảng CSVN tại Hà Nội đưa tên đại tá có nhiều kinh nghiệm về tình báo và khuynh đảo là Hà Văn Lâu, sang nắm trọn guồng máy tình báo nước ngoài tại Liên-Hiệp-Quốc. Đi theo phụ tá cho Hà Văn Lâu là Nguyễn Ngọc Dung, nữ Trung tá, nguyên chỉ huy trưởng tình báo và phản gián quân khu 7 của Trung tướng CS Trần Văn Trà.&lt;br /&gt;Mới đây, Hà Văn Lâu còn được tăng cường thêm một tình báo cỡ gộc nữa, đó là Phạm Ngọc Ẩn.  Bộ máy tình báo và khuynh đảo của Hà Văn Lâu được đặt trực tiếp dưới quyền điều khiển của Bộ Chính trị tại Hà Nội, thay vì thuộc Bộ Ngoại giao của họ…” &lt;br /&gt;Đó là một nguồn thông tin khá chính xác, nhưng đã mất thời gian tính. Ông Hà Văn Lâu, gốc người Huế-Sịa đã chết, vai trò của “Bà Dung” (nữ trung tá Nguyễn Ngọc Dung Tình báo CS) có thể đã thay đổi. Trong vòng 20 năm qua, có rất nhiều biến động về đường lối trong nội bộ của Đảng CSVN, đưa tới việc thanh trừng nhiều cán bộ đảng viên cao cấp. Tựu trung là biến động có tính chiến lược trong vị thế của Đảng CSVN trước sự sụp đỗ của Đảng cầm quyền CS Nga, sự tồn tại và tiến tới vai trò đế quốc bành trướng của Đảng CS Trung Hoa; dẫn tới một biến tướng về nhân sự, đường hướng và cơ cấu lãnh đạo của Đảng CSVN –từ đối nội đến đối ngoại. Ta có thể liên hệ tới vụ giết Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai và vân vân… đến những tranh chấp nhỏ ngầm ngầm giữa tờ báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên (trước đây do Nguyễn công Khế, gốc Nam-Ngãi cầm đầu). Qua sự tìm hiểu của tôi, Khế bị dư luận ở Sài Gòn đánh giá rất thấp về khả năng và tư cách, lại được trung ương (qua Mặt Trận Tổ Quốc) cất nhắc và sử dụng cho mục tiêu lâu dài. Nhưng hiện tại, Khế đã bị thay thế.&lt;br /&gt;Trong vòng 5 năm trước, nếu thật sự ‘sư’ PH là người được “bà Dung” gởi qua hoạt động ở Mỹ thì vai trò của ông này hiện nay có thể đã hoàn toàn vô dụng, nên ‘sư’ phải rơi vào hoàn cảnh sống vất va vất vưỡng như kẻ ăn mày, đâm ra nói xấu và tố cáo luôn cả ông “bổn sư” (Thiện Châu) ngày trước của mình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(2) Theo lời của ĐHT, TVT có người anh là Đại tá Công an (Bắc Việt), sau 4 năm có thể đã lên hàm tướng.  Chính sách của Đảng Cộng sản vẫn rất dè dặt (không tin) với những người con của ông Đỗ Mậu. Theo nguồn tin trong nước: website giaodiemonline.com, hiện do hai anh em ĐHT và Đỗ hữu Chí 'cầm lái' (để lập công với MTTQ) - ông Minh Mẫn cho biết thêm: hiện văn phòng làm việc của họ đặt tại trụ sở văn phòng Luật của Võ văn Quới ở đường Nguyễn trọng Tuyển, Phú Nhuận. Tôi không tin điều đó và không hề quan tâm. Tuy nhiên, những người đấu tranh cho dân chủ nếu biết theo dõi nội dung những websites-liên-kết của họ thì có thể hiểu được đường lối của Cộng sản.  Khi chính sách Đảng CS HN đi đêm-liên kết với Mỹ, thì sẽ tìm thấy "không khí" chửi Mỹ, chống Mỹ, chống Cộng Giáo/Tin Lành/Phật Giáo TN dữ dội... khi Đảng liên minh với Trung Cộng thì họ thúc thủ và dè dặt hơn. Đó là một đặc điểm!.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(3) Câu chuyện về Nguyễn tấn Dũng và công trạng phá vỡ tổ chức kháng chiến chống Cộng của Lê quốc Túy &amp;à Trần văn Bá của Huyến có hàm ý: Nếu ai đó mà làm được công tác như Dũng, thì cũng sẽ được làm Thủ tướng -thí dụ như "tố cáo" hay đập tan ‘bọn’ Mặt trận Hoàng cơ Minh.v.v.., chẳng hạn.&lt;br /&gt;Một thời gian ngắn sau bữa ăn tối này, thái độ của Phan mạnh Lương thay đổi rõ rệt, tinh thần ông ta tỏ ra đầy lạc quan, đắc chí…Trong những lần từ miền Nam California lên San Jose, y thường gạ gẫm tôi đi thăm vợ chồng ‘cụ già’ Đoàn Nhật. Cụ già Nhật này, trong 10 năm trước vốn chưa từng quen biết với tôi, cũng mời tôi đến nhà dùng cơm, hỏi han nhiều chuyện trong đó cụ trao đỗi với tôi về ý định dịch cuốn “The Tao of Physics” của Capra Fritoff. Cụ Nhật cho biết ông là người cùng quê với Đỗ Mười ở ngoài Bắc, cụ nói: “ĐM là thằng hoạn lợn, học hành chưa xong bậc tiểu học, gia nhập đảng cộng sản và rất ác, y từng bắn giết người rồi thả trôi sông…”&lt;br /&gt;Một thời gian sau, tôi thấy xuất hiện bản dịch “Đạo Vật Lý” do Đoàn Nhật dịch, từ trong nước mang ra. Như vậy, ở Việt Nam hiện nay có hai (?) bản dịch “The Tao of Physics”, bản thứ hai là của Nguyễn tường Bách. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(4) Gia đình bên vợ của Nguyễn công Hoan có liên hệ ruột thịt với bà Cao ngọc Phượng (tức sư bà Chân Không). Tôi nghe nói, cơ sở in ấn ở San Jose (business vẫn còn hoạt động?) là do sự tài trợ từ ngân sách của Thiền sư Nhất Hạnh. Theo suy nghĩ của riêng tôi, tôi biết có một số người thân chế độ Hà Nội ở nước ngoài không ưa thầy Nhất Hạnh, sau lưng vẫn tung tin “xấu” về đời riêng của Sư – vậy mà không hiểu tại sao Sư Nhất Hạnh chấp nhận điều kiện của chế độ Hà Nội quá dễ dàng, trở về nước “giải oan” rồi lại liên tục bị "hàm oan". Tôi hoàn toàn không biết những chuyện đàng sau hậu trường.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-7413364378844325998?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/7413364378844325998/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=7413364378844325998' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7413364378844325998'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7413364378844325998'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/gia-tu-quan-cam-noi-canh-cua-cuoi-cung.html' title='Giã từ quận Cam: nơi cánh cửa cuối cùng'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-4913603726528746275</id><published>2010-01-25T09:47:00.000-08:00</published><updated>2010-01-28T11:42:31.621-08:00</updated><title type='text'>…Để tưởng niệm nhà biên khảo Trần Đông Phong</title><content type='html'>&lt;strong&gt;PHÂN ƯU&lt;/strong&gt; &lt;br /&gt;Được tin nhà biên khảo TRẦN ĐÔNG PHONG (tức giáo sư Trần Đức Thắng) vừa đột ngột từ giã thế gian vào lúc 6:30 PM ngày 24/12/2009 tại Orange County, California vì trọng bệnh.&lt;br /&gt;Chúng tôi thành kính chia buồn với Bà quả phụ Ngọc Minh và Tang quyến.&lt;br /&gt;Cầu xin hương linh anh Trần Đông Phong sớm tiêu diêu nơi tiên cảnh.&lt;br /&gt;__________________________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Văn Hóa &amp; mạng lưới Hội Tụ &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trao đổi với nhà biên khảo Trần đông Phong&lt;br /&gt;posted: 27.3.2007 | lần thứ 2 ngày 11/7/09&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn văn Hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa trung tuần tháng 3, nhà biên khảo Trần đông Phong có điện thư liên lạc với tôi, đề cập đến vài vấn đề lịch sử, đồng thời nhờ tôi một việc là minh xác một chi tiết nhỏ liên quan đến cuốn sách “Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ở Huế” của tác giả Nguyễn đắc Xuân có đề cập đến cụ Bùi quang Chiêu, (tôi có viết một bài giới thiệu về cuốn sách nầy, đăng trên website giaodiem.com năm 2005.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Được biết, ông Trần đông Phong ngoài tác giả cuốn “Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng”, (Nam Việt xuất bản năm 2006); ông còn là tác giả một số bài viết, nói chuyện, trả lời phỏng vấn do mạng lưới vietnamexodus của Tường Thắng thực hiện. Tôi có theo dõi mạng lưới vietnamexodus trong vòng hơn 2 năm trở lại, nên nắm được nội dung, tinh thần làm việc của một số tác giả xuất hiện trên mạng lưới này. Trần đông Phong là một trong số tác giả mà tôi “thích” qua cung cách trình bày vấn đề, nội dung đề tài lịch sử nêu ra, đặc biệt ở các giai đoạn trước 1945, phong trào Thanh niên Tiền phong, Mặt trận Việt Minh, Cộng sản Đệ tứ, cố Chủ tịch Hồ chí Minh, cố Tổng thống Ngô đình Diệm và một số nhân vật yêu nước đứng ở vị thế “độc lập”, trong đó có cố Kỹ sư Bùi quang Chiêu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong hai bài trình bày một số dữ kiện lịch sử (oral history) về nhân vật Bùi quang Chiêu có liên quan đến Hồ chí Minh, do Tường Thắng phỏng vấn nhà biên khảo Trần Đông Phong đã đăng trên mạng lưới vietnamexodus.com.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bây giờ, tôi xin trích đoạn hai lá thư nói trên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thư thứ nhất  (giữa tháng 3/2007):&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“&lt;em&gt;Thưa anh H.,&lt;br /&gt;“………………………………………………&lt;br /&gt;“Sau năm 1975, hơn 25 năm tôi không hề cầm bút, không hề viết một câu nào trên báo chí ở hải ngoại vì tôi nghĩ rằng thế hệ chúng ta bất tài, thế hệ chúng ta có tội đối với các thế hệ trẻ vì chúng ta đã không hoàn thành được nhiệm vụ bảo tồn và xây dựng được một cuộc sống tốt đẹp hơn cho con em chúng ta… Tôi nghĩ rằng đó là một mối nhục, nhục không phải vì thua trận mà nhục vì đã không làm tròn nhiệm vụ mà các bậc tiền nhân đã kỳ vọng ở thế hệ chúng ta, những người đã nhận được sự giáo dục đầy đủ do các thế hệ trước xây dựng nên cho chúng ta. Do đó, trong bao năm qua tôi đành câm lặng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cách đây mấy năm, một người bạn của tôi, một nhà văn, một nhà báo lão thành đã từng bị Việt Minh bắt giam năm 1945 ở Hà Nội, đã từng bị ở tù thời Ngô đình Diệm, đã từng bị Việt Cộng bỏ tù ở Chí Hòa gần 20 năm, từ trần tại Washington DC. Vì bị bệnh ung thư mắc phải trong những tháng tù đày. Trước khi mất, anh ấy bắt tôi hứa là phải viết lại những điều cần nói cho thế hệ sau trước khi không còn nói được nữa.&lt;br /&gt;Tôi miễn cưỡng phải nhận lời người bạn cũng như là người thầy của tôi dù rằng sự hiểu biết của tôi chỉ không bằng một phần mười của ông ta. Tuy nhiên trong thâm tâm, khi viết trở lại, tôi tâm nguyện rằng sẽ viết những điều gần sự thật để các thế hệ sau nhờ đó mà tìm kiếm, sưu tầm thêm nữa để tìm cho ra Sự Thật.&lt;br /&gt;Và gần đây một số bài viết của tôi xuất hiện, trong đó có cuốn sách xuất bản hồi năm 2006&lt;/em&gt;.” (ngưng trích)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Và, trích đoạn khác của điện thư thứ hai:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“&lt;em&gt;Anh H. thân mến,&lt;br /&gt;“…………………………….&lt;br /&gt;“Luật sư Dương văn Giáo mà tôi có đề cập đến trong bài nói về ông Bùi quang Chiêu, được người Nhật trao cho một số tài liệu của Mật Thám Pháp (Sécurité Féderal) sau ngày 9 tháng 3 năm 1975  trong đó có chuyện Trần văn Giàu của Cộng sản cộng tác với Mật thám Pháp. Ông Giáo một phần là người trí thức, một phần ông nghĩ rằng Cộng sản cũng là người yêu nước cho nên ông không thèm công bố chuyện này, do đó mà không ai biết gì về Trần văn Giàu để cho hắn ta làm Chủ tịch Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ và trong chức vụ này hắn đã ra lệnh thủ tiêu hàng ngàn người trí thức Việt Nam trong đó có cả Luật sư Dương văn Giáo…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi cũng muốn nhờ anh một chuyện: Tôi đọc trong Giao Điểm thấy anh có viết bài điểm sách về “Đi Tìm Dấu Tích Thời Thơ Ấu của Bác Hồ ở Huế” của Nguyễn đắc Xuân, nghe nói rằng ông Phó bảng Nguyễn sinh Huy có học với ông Bùi quang Chiêu tại trường Canh Nông ở Huế vào khoảng năm 1901 hay 1902 gì đó. Lúc ấy ông Nguyễn sinh Huy đang làm hành tẫu tại Bộ Hộ và ông Bùi quang Chiêu thì có dạy ở trường Canh Nông, không rõ chuyện này có đúng hay không, xin anh cho tôi biết. Tôi cũng có viết một bài về cụ Phó bảng Nguyễn sinh Huy và được nhiều người rất thích.&lt;/em&gt;……………………………………………………………”  (ngưng trích ngang đây) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trên đây là hai trích đoạn trong hai lá thư của tác giả Trần đông Phong (xin viết tắt: TĐP).  Đầu năm Đinh Hợi, tôi có đọc “Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng” của tác giả họ Trần mà tôi đã bộc lộ nhận xét đó là tác phẩm viết với sự “công tâm”, trong phần trao đổi với Amy Tan đăng tải trên mạng lưới giaodiem.us vừa qua.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có nhiều người không xuất thân từ quá trình được đào tạo chuyên môn về sử học, nhưng viết về vấn đề lịch sử rất đứng đắn, đúng quy phạm về nghiên cứu sử, có giá trị…là nhờ ở sự công tâm; nhưng cũng có người được đào tạo với trình độ hậu đại học (cấp tiến sĩ) thì ngược lại. Trường hợp của tác giả Trần đông Phong là một. Như vậy, thành quả về khoa bảng chỉ là tiêu chuẩn, điều kiện quy ước có tính định chế để một cá nhân có thể hành nghề mô phạm về sử học thôi, không nhất thiết đòi hỏi cho những người có nổ lực, hoài bảo tự học hỏi để nghiên cứu và viết sử.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Giữa trung tuần tháng 3/07, tôi có nghe hai loạt bài “oral history” của nhà biên khảo Trần đông Phong đề cập tới nhân vật Bùi quang Chiêu –là người Kỹ sư đầu tiên của nước Việt đã gặp gỡ “chú Ba” (tức Hồ chí Minh sau này) trên chuyến tàu Latouche Tréville, xuất phát từ bến Nhà Rồng, Sài Gòn.  Tôi rất thích thú. Làm sống lại giai đoạn lịch sử ở thời kỳ này, là việc làm hết sức ý nghĩa, mà tác giả TĐP lại có may mắn là được quen biết, tiếp xúc với cụ bà Henriette Bùi quang Chiêu (con gái út của cụ Bùi quang Chiêu), hiện còn sống ở Pháp, năm ngoái (2006) có tổ chức lễ sinh nhật đại thọ 100 tuổi của cụ. Với nhân chứng sống này (còn có thêm hình ảnh nữa) hùng hồn thách thức bất cứ sự hoài nghi, xuyên tạc đến từ bất cứ đâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Về hai nhân vật mà tác giả TĐP nêu ra là Dương văn Giáo (luật sư) và Bùi quang Chiêu thì trong tác phẩm của tác giả Trần ngươn Phiêu (bác sĩ), “Phan văn Hùm, thân thế và sự nghiệp, (Hải Mã xuất bản 2003)”, đã có nhắc đến khá chi tiết, nhất là về cái chết của họ là do nhóm Cộng sản Đệ tam chủ mưu.  Tôi trích dẫn, “…Vài ngày sau 23 tháng 9, 1945 nhà giáo Nguyện thị Lợi phụ trách báo Tranh Đấu cũng bị thủ tiêu ở Cần Giuộc, Chợ Lớn. Cuộc khủng bố trắng, săn bắt, ám sát các nhân sĩ ái quốc có uy tín nhưng không thuộc Đảng Cộng sản từ đó đã xảy ra hằng ngày, bắt đầu từ Bùi quang Chiêu đến Hồ văn Ngà, Trần quang Vinh, Bác sĩ Hồ vĩnh Ký và vợ là Bác sĩ Nguyễn thị Sương (nguyên thủ lãnh Phụ nữ Tiền Phong) ..v.v… Nhà viết báo và cách mạng danh tiếng trong thời kỳ “Đông dương Đại hội”, Diệp văn Kỳ, khi biết rõ ý đồ của Trần văn Giàu, đã lánh mặt, mặc áo tu lên ở Tha La Xóm Đạo (Trảng Bàng) cũng bị bắt và sát hại trong đêm.” (sđd, trang 349). Và, trường hợp của Dương văn Giáo thì, “…Một nhân tài có tiếng tăm khác bị thanh toán là Luật sư Dương văn Giáo. Cái chết của ông Giáo có thể có liên can một phần nào đến cấp chỉ huy trực tiếp của ông Trấn (tức, Nguyễn văn Trấn, tác giả "Viết cho Mẹ và Quốc Hội” –ghi chú của NVH), là ông Trần văn Giàu, Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Nam bộ.”  (dẫn như trên). (*)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhân vật Bùi quang Chiêu, ngược lại, trong tác phẩm: “Việt Nam 1920-1945: Cuộc cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thuộc địa” của Ngô Văn, do Chuông Rè xuất bản năm 2000 thì được đề cập rải rác khắp cuốn sách. Ngô Văn là một nhà biên khảo đệ tứ cộng sản (Tờ-rố-kít/Trotskist), dù không coi ông Bùi quang Chiêu như một “kẻ thù chính trị” nhưng đứng ở quan điểm ‘đấu tranh cách mạng’, đã nhìn nhân vật họ Bùi như người “ôn hòa”, chủ trương lập hiến để thỏa hiệp với thực dân Pháp, chủ trương “Pháp-Việt đề huề.” Chủ trương đó họ gọi là “dominion”.  Ở đây, tôi có sự đồng thuận với ông Trần đông Phong về ngữ nghĩa và thực tiễn chính trị về từ “dominion” là hiểu theo tinh thần “political dominion”, chứ không phải là tôn giáo (religious dominion).  Dominion, là thực thi quyền tự trị (self-governing nation, sovereignty), kiểm soát một cách hoàn hảo về chủ quyền (perfect control in right of ownership) của quốc gia nằm trong một khối thịnh vượng chung (commonwealth) dưới sự đứng đầu của một quốc gia mạnh hơn, chứ không có nghĩa là thỏa hiệp, nô lệ, đầu hàng thực dân. Tôi tin quan niệm về “lập hiến” của cụ Bùi quang Chiêu nằm trong ý nghĩa này. &lt;br /&gt;Nhìn từ quan điểm lịch sử, nếu hai cụ Phan châu Trinh và Phan bội Châu, vốn có một số kinh nghiệm và kiến thức về Cộng sản quốc tế khi xuất dương hoạt động cách mạng ở nước ngoài, nên không chấp nhận đường lối bạo động và đấu tranh giai cấp, thì hẳn giải pháp của cụ Bùi quang Chiêu là thích hợp với thực tế chính trị nhất (realpolitik), phải phù hợp chứ không thể là đối nghịch với chủ trương của hai cụ Phan.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo tôi, nghiên cứu về đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần phải biết sự hình thành và phát triển của Cộng sản Đệ tam (Komintern) cho đến lúc nó tàn lụi. Sự hình thành và phát triển của Komintern bắt đầu từ năm 1919 (sau Đệ I Thế Chiến), do Lênin và Trotsky thành lập.  Đặc biệt về tác phẩm, “Làm Gì?” (‘What is to Be Done?’ của Lênin viết năm 1902). Tác phẩm này quan trọng, vì trong đó Lênin vạch ra sự chỉ đạo [không chỉ dành riêng cho nước Nga mà cho cả thế giới, nhất là các nước nằm trong quỹ đạo của Kominter] chiến lược cách mạng cộng sản, hành động cách mạng thực tiễn, sách lược cách mạng bạo động để cướp chính quyền, vận động các tổ chức quần chúng để hỗ trợ cho đấu tranh giai cấp nhằm lật đổ chính quyền tư sản, xây dựng một chính quyền của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản v.v… Như vậy chúng ta cần nắm vững hệ thống nhất quán 7 Hội nghị Quốc tế của Đảng Cộng sản và Hội nghị sau cùng (thứ Tám) cho đến ngày giải thể tổ chức Cộng sản Đệ Tam Quốc tế do Stalin chủ động ( 15/5/1943) giữa Đệ II Thế Chiến. Đến thời điểm này thì Stalin muốn xây dựng một đế quốc cộng sản Đại Nga (Great Russian nation-state), và các nước chư hầu phải nằm trong quỹ đạo kiểm soát, chỉ đạo của họ. Tinh thần “anh em” quốc tế vô sản không còn nữa. Trong thời kỳ này, có những xung đột chính trị, thanh trừng đẫm máu của Đệ Tam đối với thành phần Đệ Tứ Cộng sản (do Trotsky thành lập và lãnh đạo từ năm 1938); do đó, sự thanh trừng đẫm máu này có dây xích liên hệ với các nước chư hầu, đặc biệt các quốc gia thuộc địa đang còn nằm dưới sự cai trị của thực dân mà đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh là một biểu trưng nổi bật nhất trong thế giới cộng sản thời kỳ đó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng, để nắm vững bối cảnh quốc tế về sự hình thành các phong trào cộng sản, thì phải trở về với nguồn gốc hình thành Quốc tế Cộng sản, từ Đệ Nhất Quốc tế Cộng sản đến Đệ nhị Quốc tế Cộng sản. Phong trào xét lại sau Đệ nhị Quốc tế. Cơn ác mộng sau Cách mạng Nga 1905 (mà các sử gia Hà-nội đã gọi là 'cuộc cách mạng dân chủ tư sản') đã có những tác động gì lên các phong trào Cộng sản. Từ sự thất bại của Đệ nhị Quốc tế đối diện với Thế chiến Thứ nhất, cho đến sự hình thành Đệ tam Quốc tế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ đó, chúng ta sẽ nhìn thấy bản chất và sách lược của Cộng sản Quốc tế một cách cụ thể, không mơ hồ, hay bị những giao động (hoặc nhầm lẫn và đơn giản hóa giữa hai thế lực vô thần và hữu thần.) giữa mâu thuẫn của các tổ chức tôn giáo quốc tế và cộng sản quốc tế -nhiều khi làm cho các đảng phái cách mạng, chính trị đưa tới sự chống báng hay hùa theo (a tòng) một cách tai hại. Tôi nghĩ tinh thần của thành phần Cộng sản Đệ Tứ trong các nước thuộc địa nằm trong sự giao động này, cuối cùng đã bị Cộng sản Đệ tam thanh toán. Thảm họa này không chỉ xảy ra ở miền Nam Việt Nam từ trong các thập niên 1930, 40 mà ngay ở Huế cũng bị ở quy mô nhỏ hơn (về số người bị giết). Tôi nhớ tác giả Tuệ Chương Hoàng long Hải có đề cập đến thảm trạng tương tự đã xảy ra ở làng Sịa (cách Huế chừng 10, 15 (?) cây số) , thành phần Cộng sản Đệ Tam đã giết hại gần 200 người thuộc thành phần trí thức, có ăn học. Mặt khác, một số lớn thanh niên Huế vào thời kỳ đó cũng đã hăng say lên đường vào Nam theo tiếng gọi của Thanh niên Tiền phong... Cho nên, trong số người bị thanh trừng có thể bao gồm thành phần này.  Ở miền Nam, theo tác giả Trần đông Phong thì, người chủ động thi hành các cuộc 'thanh toán đẫm máu' là do ông Trần văn Giàu (Cộng sản Đệ tam dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh) và các thuộc cấp như Nguyễn văn Trấn.v.v.. đã thảm sát gần 2 ngàn người trí thức ở Nam bộ. Nói tóm lại, nạn nhân của Cộng sản Đệ tam không chỉ riêng thành phần Cộng sản Đệ tứ, mà đủ các thành phần trí thức khác –dù ở trong các tổ chức đảng phái cách mạng hay không, nhưng đi theo đường lối khác hoặc không theo Cộng sản Đệ tam, đều có thể bị thanh tóan.  Các nạn nhân như Dương văn Giáo, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Tạ thu Thâu, Bùi quang Chiêu v.v…và hàng ngàn người khác chỉ là một trong những trường hợp điển hình.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trở lại với câu hỏi của nhà biên khảo Trần đông Phong, tôi ghi lại một đoạn trong cuốn  “Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của bác Hồ ở Huế”,  Nhà xb Văn Học, 2003, (xin viết tắt: ĐTDTTNT…) của nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn đắc Xuân đã đề cập đến nhân vật Bùi quang Chiêu như sau, &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"Sau mấy chục năm tìm tòi nghiên cứu, căn cứ trên các hồi ức và tài liệu thành văn cùng thời, đến giờ này tôi đã có thể khẳng định rằng bà Hoàng thị Loan -thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mất ở Huế vào ngày 7.2.1901 trong lúc chồng bà là cụ Cử nhân nguyễn Sinh Sắc đang bận việc xây mộ cho song thân ông ở quê nhà Nghệ An.&lt;br /&gt;“…Và, theo lời khai của Bùi quang Chiêu với Sở Mật Thám Sài Gòn (Mật văn số U.S.1, tài liệu số 19, ngày 21 tháng 9-1922) thì vào năm 1901 hay 1902 gì đó ông Nguyễn sinh Sắc có học về Canh Nông với kỹ sư Bùi quang Chiêu (1) ở trường Canh Nông Huế. Chính vì thế mà Bác đã tìm gặp Bùi quang Chiêu trên chuyến tàu hai người cùng sang Pháp năm 1911.  Bùi quang Chiêu khai:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;“…Nguyễn ái Quốc…vào cuối năm 1911, tôi đã đi với anh ta trên chuyến tàu thủy mà tôi đã quên tên. Anh ấy làm ở trên tàu. Anh ấy tìm tôi vì tôi là thầy dạy học của thân phụ anh ta ở trường nông nghiệp Huế năm 1901 hay 1902…” (AOM, SPCE, 364). Tôi rất quan tâm thông tin nầy nhưng chưa thể xác định được thời điểm cụ học nông nghiệp với Bùi quang Chiêu trước hay sau thời điểm cụ “vinh quy bái tổ” vào tháng 8.1901.” &lt;br /&gt;Ở footnote (1) cùng trang, tác giả ghi thêm : “Bùi quang Chiêu (1873-1945), quê ở làng Đa Phước Hội, h. Mõ Cày, tỉnh Bến Tre. Đổ kỹ sư canh nông tại Pháp, về nước làm việc ở sở Canh nông và tằm tơ Châu Đốc, sau đó ra Huế dạy ở trường Canh nông.” (sđd, trang 90).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trước khi trao đổi với nhà biên khảo Trần đông Phong, tôi muốn trình bày vắn tắt về quan điểm viết sử của riêng tôi.  Như đã nói trên, người ta không cần phải được đào tạo chuyên môn về sử học mới có thể viết sử. Bởi, có nhiều điều kiện để một người có thể tự học hỏi nghiên cứu để viết sử; tuy nhiên, để đi làm một công việc nghiên cứu hay giảng dạy về sử ở bất cứ một trường đại học hay một học viện nghiên cứu nào đó cũng đòi hỏi người ấy phải được đào tạo theo hệ thống ‘academic’, nếu có chứng minh thêm các công trình như viết sách, viết báo về các đề tài lịch sử rồi càng tốt. Theo sự hiểu biết của tôi, nếu một học viện nghiên cứu nào đó cần thuê mướn một người chuyên ngành về sử, thường họ chỉ đòi hỏi người ấy có trình độ Cao học (graduated) về sử là đúng yêu cầu (qualified) rồi, có khi họ gọi chức vụ đó là “historian” (mình dịch là “sử gia” thì cũng hợp lý thôi, chứ chưa cần tới cấp tiến sĩ (Ph.D). Cấp tiến sĩ chỉ cần để “qualified” cho sự giảng dạy ở cấp đại học và cao học. Nếu họ mướn một người làm công việc nghiên cứu có tính cách sử thì họ gọi là “historical researcher.” Sở dĩ tôi nêu ra sự kiện này để thấy người Việt mình có khi cũng khó tánh, tôi thấy có người đủ một số tiêu chuẩn để gọi là “sử gia”, nhưng vì không thích cá nhân đó, họ bắt bẻ không chịu gọi là “sử gia” mà chỉ nên gọi là “nhà nghiên cứu sử” thôi. Ngược lại có những cuốn sử rất có giá trị lại không được nhìn nhận chỉ vì người viết không có học vị tiến sĩ sử học.  Sự thiển cận trong vấn đề đặt cách gọi cho “chính danh” này xuất phát từ tinh thần trọng khoa bảng, mong cầu tước vị trong xã hội một cách quá đáng của người Việt. Nhìn vấn đề cao hơn, thì bởi nước mình chưa hề có một Viện Hàn Lâm đúng nghĩa. Có khi người ta đặt ra những cơ sở với danh xưng như : ‘Viện Sử học’, ‘Viện Khoa học…’ v.v… này kia cho nó “kêu” thôi, nhưng thực chất chỉ là để phục vụ cho mục tiêu tuyên truyền của chế độ. Và không may, hầu như một chế độ nào có một hệ thống chính trị độc tôn, thường hay bị nạn này.&lt;br /&gt;Vậy nên, theo tôi, giá trị của một tác phẩm lịch sử tùy thuộc vào công trình nghiên cứu, tính khoa học, nổ lực được chứng minh trong những khám phá mới, phẩm chất và giá trị của nguồn sử dụng, phương pháp luận sử  v.v… Nhưng, khuyết điểm của một tác phẩm sử được viết bởi một người không được đào tạo chuyên môn về sử học thường được dư luận tha thứ dễ hơn, trong khi một người được đào tạo khoa bảng về sử học thì ngược lại.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi nhận xét, nhà nghiên cứu Nguyễn đắc Xuân thường ngay thẳng xác nhận trong một số bài báo mình là một “đảng viên Đảng Cộng sản”, điều đó gián tiếp xác nhận những công trình viết lách của ông “có thể” là sẽ phục vụ cho mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản VN, cho nên tôi thường không thắc mắc lắm về những sai sót, lệch lạc trong các cuốn sách của ông NĐX, nếu có. Trường hợp của cuốn “Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ở Huế” không thể là một ngoại lệ (Xin mở ngoặc: “thời niên thiếu” chứ không phải “thời thơ ấu” như tác giả TĐP đã ghi !). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuy nhiên, nếu liên hệ nhân vật Bùi quang Chiêu mà tác giả Nguyễn đắc Xuân đã nêu trong cuốn sách nói trên với nội dung hai buổi phát thanh của nhà biên khảo TĐP trên mạng luới vietnamexodus, tôi thấy cần nói thêm vài ghi nhận trong cuốn sách ấy mà tôi chỉ giới thiệu đại cương trước đây.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đi sâu vào trong ĐTDTTNT…, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều hạt sạn. Nhưng cần ghi nhận ưu điểm đầu tiên là tác giả NĐX đã “can đảm” (với sự khéo léo) nói thẳng các tác phẩm –do mục đích chính trị, hoặc vì lòng sùng bái lãnh tụ quá đáng, của Thanh Tịnh như “Đi từ giữa một mùa sen”, của Sơn Tùng : “Les Années de l’ Enfance de l’Oncle Ho à Hue” v.v…là “hư cấu” tiểu sử thời niên thiếu của ông Hồ chí Minh, và của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh đã phô bày sự tạo dựng sai lạc. Đó là một “lịch sử” đầy mơ hồ, sự kiện mâu thuẫn, năm tháng trái ngược nhau, tông tích dễ lẫn lộn về một “vị lãnh tụ” của họ. Vì thế, tôi cho rằng cuốn ĐTDTTNT… của Nguyễn đắc Xuân đã làm một công việc “chữa cháy”.  Tác phẩm thì “nhỏ” (dày chưng 250 trang), nhưng công việc thì lớn, vì theo lời tác giả đã bỏ ra trong hai thập niên để bổ sung, điều chỉnh có lẽ để cho mục đích “chữa cháy” hoàn hão hơn (theo ấn bản năm 2003.)  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai “thành quả” khác (theo ghi nhận của tôi) là tác giả đã tìm ra được ngôi nhà ngày xưa hai mẹ con bà cụ Hoàng thị Loan (vợ của cụ Nguyễn sinh Sắc và bé sơ sinh Nguyễn sinh Xin) đã sống là ngôi nhà ở số 112 đường Mai thúc Loan, Thành nội, Huế; và quan trọng hơn là ông NĐX cố chứng minh trong lúc cụ bà Loan trong cơn bạo bệnh đã chết trong cô đơn, cơ hàn thì cụ Nguyễn sinh Sắc không có mặt ở Huế.  Chính vì cái chết khổ đau này [lúc ấy cụ bà Loan hẳn còn trẻ, vì cụ bà lúc lấy chồng chỉ mới 13 tuổi, mà cụ ông Nguyễn sinh Sắc (năm 1901) còn là thanh niên sung sức (sinh năm 1863)] đối với dư luận của xã hội Việt Nam có thể đổ lỗi cho cụ ông là người chồng bất nghĩa, thiếu bổn phận làm chồng làm cha trong gia đình. Điều này đối với phong hóa xã hội Việt Nam đương thời rất coi trọng : “Tình phu phụ, nghĩa quân thân” (Truyện Hoa Tiên); hay: “Có âm dương, có vợ chồng. Làm người ai thoát khỏi vòng phu thê” (Gia huấn ca).  Vậy thì trong cơn đau yếu, hoạn nạn của cụ bà, cụ Cử Sắc đang ở đâu? Hai đứa con trai theo cụ (là Sinh Khiêm và Sinh Cung ở đâu)? Nếu cụ không ở Bắc như vài tài liệu của Đảng CS nêu ra thì lúc ấy cụ đang ở làng Dương Nổ, thế tại sao cụ không thể có mặt lúc cụ bà mất? Tôi không dám thất lễ nghĩ, hay là cụ ông đang đắm chìm trong "tửu sắc" đâu đó mà quên đi vợ đang ốm đau và thui thủi một mình ở căn nhà đường Mai thúc Loan?. (**) Nhưng, trong phương pháp luận luận sử, điểm này không thể bỏ qua được. Vấn đề là có đủ dữ liệu "gần" với sự thật để chứng minh hay không!&lt;br /&gt;Theo tác giả Vũ ngự Chiêu, thì:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--1984: Cụ Sắc đỗ cử nhân.&lt;br /&gt;--1895: Thị Hội hỏng, xin “tọa Giám”, nhưng không dám quyết đoán cụ Nguyễn sinh Sắc và hai con trai vào Huế năm nào, đồng thời ông ghi nhận thêm trong các tài liệu của Cộng sản cũng không nói rõ năm nào luôn.&lt;br /&gt;--1898: Cụ Sắc thi Hội lại hỏng lần nữa. Cụ Sắc làm nghề “kèm trẻ” ở nhà Nguyễn sĩ Độ ở làng Dương Nổ (có hai con là Khiêm (anh) và Cung (HCM) đi theo, còn cụ bà Loan và và con mới sinh tên là Nguyễn sinh Xin ở lại Hà Nội.&lt;br /&gt;--1901 (đầu năm) Cụ bà Loan chết vì bạo bệnh, cụ Sắc bồng bế 3 con (có thêm Xin) về lại làng Hoàng Trù. Đứa con út (Sinh Xin) chết.&lt;br /&gt;--1901, cụ Sắc đỗ thi Hội với chức Phó bảng.&lt;br /&gt;--1904, được bổ làm chức quan nhỏ ở bộ Lễ , rồi sau đó làm Tri huyện ở Bình Khê, Bình Định.&lt;br /&gt;--1910: cụ Sắc bị cách chức quan, vì say rượu và đánh một người (làm chánh tổng) vong mạng.&lt;br /&gt;(“Việt Nam Nhân Vật Chí”, Vũ ngự Chiêu, Văn Hóa xb. 1997, trang 366, 367 ).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Theo Cao thế Dung trong “Việt Nam Huyết Lệ Sử”, Đồng Hướng xb. 1996, thì rõ hơn một chút nữa vì tác giả trích dẫn từ “Quốc Triều Đăng Khoa Lục” của cụ Cao xuân Dục:&lt;br /&gt;-1901: (Cụ) Sắc đậu Phó Bảng đời Thành Thái thứ 13, cùng khoa với Phan châu Trinh.&lt;br /&gt;Trong phần chú thích 18 (sách đd, trang 404), ông Cao thế Dung viết thêm: --“Theo tài liệu của Đảng CSVN,…. Sau khi nhạc phụ qua đời, ông Sắc về ở hẳn nhà vợ, làm nghề thầy đồ dạy học. Năm 1894, ông đậu Cử nhân, Thi hỏng khóa thi Hội năm 1895, ông vào Huế xin làm tọa Giám tức được lương ăn, theo học Quốc Tử Giám, chuẩn bị kỳ thi Hội năm 1898, nhưng mãi đến 1901 mới đậu Phó Bảng.”  Ở chú thích 17, trang 403, Cao thế Dung ghi lại chú dẫn của Chính Đạo Vũ ngự Chiêu, viết rằng, “Không hiểu rõ Nguyễn tất Thành (tức Hồ chí Minh) học đến đâu nhưng chắc chắn ông không được vào học trường Quốc Học Huế. Mùa hè 1911, nghĩa là một năm sau, thân phụ bị cách chức Tri huyện vì “nghiện rượu và tàn ác với dân chúng” [theo hồ sơ của Pháp Archives Nationale, Carton 326, Dossier 2627… -in đậm là nhấn mạnh của nvh.]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tựu trung, cụ Sắc và hai con vào Huế năm 1905, 1906, hay 19xx … không phải là vấn đề chính; vấn đề quan trọng hơn, Nguyễn tất Thành có được vào học trường Quốc Học không, và thời điểm cụ Sắc làm “thục sư” (từ ngữ của ông Nguyễn đắc Xuân, chỉ người kèm trẻ học) ở làng Dương Nổ, và lúc cụ bà Hoàng thị Loan chết ở căn nhà số 112 đường Mai thúc Loan (công lao khám phá của NĐX) cụ Sắc, hai con Khiêm và Cung ở đâu?&lt;br /&gt;--Nhà biên khảo (đồng thời là giáo sư sử trước 1965) Nguyễn hữu Châu Phan cho rằng, “…Nguyễn sinh Cung cũng như nhiều anh em học sinh đóng vai trò chủ chốt trong việc thông ngôn giúp đồng bào đã phải lẫn tránh trước sự truy nã gay gắt của thực dân.”  Nhưng rồi sau đó, Nguyễn sinh Cung đến trường (Quốc Học) học lại, và bị cò Pháp bắt ngay trong lớp học.”  (Phong trào kháng thuế Thừa Thiên Huế Năm 1908, Nguyễn hữu Châu Phan, tập san Nghiên Cứu Huế số I, 1999, trang 33).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sự kiện này (Nguyễn tất Thành có hteo học ở Quốc Học) được tác giả Nguyễn đắc Xuân nhắc lại với lời chú dẫn Pháp ngữ theo tài liệu của Tòa Khâm sứ Trung kỳ, ở Viện Bảo tàng Hồ chí Minh: “Personnement, Nguyễn Sinh Huy n’a jamais été suspecté pendant son séjour en An-nam. Il fut réprimandé en raison de la conduite de ces deux fils, alors élève au collège Quốc Học qui avaient tenu devant leur maîtres des propos anti-français à l’occasion des manifestations populaires en 1908.” (theo ĐTDTTNT.., NĐX, trang 174, --chữ đậm là do tôi (nvh) muốn nhấn mạnh.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ta có thể tạm chấp nhận ông Nguyễn sinh Cung (tức Nguyễn tất Thành, tức Hồ chí Minh) có theo học ở trường Quốc Học và vì bênh vực đồng bào tranh đấu chống thuế làm thông ngôn đối đáp với quan thực dân, rồi bị đuổi học. Vậy trong thời gian nầy, hai anh em Khiêm và Cung có lẽ đang ở làng Dương Nổ với cha là cụ Cử Sắc (từ 1908-1910).  Ở đây, khi đọc ĐTDTTNT..., tôi nảy ra một thắc mắc: Theo NĐX qua cuộc phỏng vấn với ông Nghè Duyến (cháu hoặc con của ông Nguyễn sĩ Độ ?), kể: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;"...Ông nội con rất trọng thầy (tức cụ Sắc) , không những ông giao nhà cho thầy ở, lo cho thầy và hai chú (tức hai anh em bác, Khiêm và Cung) ăn uống đầy đủ mà ông còn cử một bà o lo giặt giũ săn sóc cho gia đình thầy nữa.&lt;br /&gt;"Từ ngày về nhà mình, thầy Sắc và hai chú rất thoải mái. Học trò trong làng minh và các làng chung quanh cơm đùm gạo bới đến xin thầy Sắc học rất đông..."  (sđd, trang 71).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thắc mắc của tôi: Cụ cử Sắc và hai con trai được sống trong hoàn cảnh thoải mái như thế này, tại sao cụ không đem cụ bà về sống chung để cho vợ chồng, con cái được đêm ngày sớm tối có nhau, cụ bà có cơ hội săn sóc cho chồng con chu đáo hơn; và hơn nữa thêm một "miệng" ăn thì đâu có khó khăn gì, mà cụ bà vốn tảo tần vẫn có nhiều cơ hội để tìm kiếm việc làm khác thay vì làm nghề dệt vải ở trong Thành nội !?.  Nhưng theo khám phá của nhà nghiên cứu Nguyễn đắc Xuân ba tháng từ cuối năm 1910, cụ Sắc “…được triều đình cử làm giám khảo hai kỳ thi Hương ở Bình Định và Thanh Hóa. Trên đường về Huế, cụ ghé qua Vinh về làng quê ở làng Kim Liên để xây mộ cho song thân. Trong khi ở đó 3 tháng thì được tin vợ của ông từ trần ở Huế (ngày 17/2/1901), ông trở về Huế tức thì và gặp lại 2 con trai ở với mẹ chúng.”  [Bà Nguyễn thị Thanh (chị của Nguyễn sinh Cung) khai với Mật thám Pháp, ĐTDTTNT.., trang 89; nhưng không thấy tác giả NĐX cho biết nguồn lấy từ đâu !? ].&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Với dữ liệu này, cho thấy tác giả NĐX muốn chứng minh khi cụ bà Loan mất, cụ Nguyễn sinh Sắc không có mặt ở Huế, tức không có cơ hội để chứng kiến cảnh vợ hấp hối, từ trần và lo liệu việc tang lễ cho vợ sau đó. Vì thế nên, tác giả NĐX mới đưa vào dữ kiện cụ Bùi quang Chiêu đã khai với Mật thám Pháp là ông có gặp Nguyễn Ái Quốc vào năm 1911 trên chuyến tàu ông “đã quên tên” trên đường sang Pháp (đã dẫn chi tiết ở trên). Trong dữ liệu này có vài hạt sạn chúng ta cần nhặt ra:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Một, khó có thể tin một người có trình độ văn hóa cao (thời đó) như ông Bùi quang Chiêu đi trên một chuyến tàu sang Pháp với hải trình kéo dài cả tháng trời trên biển khơi mà ông không nhớ tên tàu khi khai với Mật thám Pháp?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Hai, cụ Nguyễn sinh Sắc đậu Phó Bảng năm 1901 (thi lần thứ 3), làm sao có thì giờ đâu để đi học thêm về nghề Canh nông với kỹ sư Bùi quang Chiêu? Trong thời điểm 1901, 1902, tôi không tin Pháp đã mở một trường Canh nông thực hành nào ở Huế, dù chỉ là cấp cán sự (ngang trình độ trung học đệ nhất cấp !) Ông Bùi quang Chiêu có thể đã từng giảng dạy về Canh nông ở Huế, nhưng theo tôi phải bắt đầu từ các thập niên 1910-1920… mới hợp lý. [Độc giả có thể tìm đọc thêm "Các Vua cuối triều Nguyễn", tập 2 của Vũ ngự Chiêu, dẫn theo tài liệu của CAOM (Aix) và G.G.I. trong mục "3. Giáo dục" từ trang 556...] &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;+ Có thể nào, tác giả NĐX đem dữ liệu về “lời khai với Mật thám Pháp” của cụ Bùi quang Chiêu vào đây như một chứng cớ lịch sử (historical evidence), nhằm vừa tạo thêm nghi vấn chồng lên sự kiện mới vừa để chứng minh trong thời gian cụ bà Loan mất, cụ Nguyễn sinh Sắc đang ở ngoài Bắc (dù tác giả "tin chắc", nhưng đối với giới nghiên cứu sử vẫn còn là giả thiết); đồng thời gián tiếp cho độc giả biết thêm cụ Bùi quang Chiêu (và đảng Lập hiến) có liên hệ với Mật thám Pháp? Nếu điều này đúng, thì có thể tác giả đã không hề biết ở hải ngoại trong nhiều năm qua, nhóm “đệ tứ” đã có những tài liệu lên án một cách hệ thống qua các tài liệu phổ biến về thủ đoạn tàn sát tập thể thành phần “CS đệ tứ” của đảng CSVN, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch HCM qua bàn tay sắt máu của các thuộc cấp như quý ông Trần văn Giàu và Nguyễn văn Trấn .v.v..? Và, cũng có thể ông NĐX không hề hay biết cụ Bùi quang Chiêu còn có một người con gái (là nữ bác sĩ đầu tiên của VN) còn sống sót đến ngày nay thọ 100 tuổi (năm 2006) là một "nhân chứng sống" như nhà biên khảo Trần đông Phong đã công bố?&lt;br /&gt;Từ đó, chúng ta có thể tạm kết luận, chính từ hành động muốn “chữa cháy” về những hư cấu của các cán bộ văn hóa cộng sản trước đó về Hồ chí Minh, tác giả NĐX đã vô tình làm cho đám cháy lớn hơn nữa… nếu như chúng ta đi sâu vào những chi tiết, sẽ thấy sự kiện chồng chéo mâu thuẫn, làm cho những mắc xích lý ra là phải nối kết với một chuỗi sự kiện, đứt lìa ra. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Quan niệm của tôi về viết sử là phải biết phối hợp giữa phương pháp luận sử học (historical methodology) và phương pháp luận nghiên cứu (methodology of research). Nghiên cứu lịch sử là khảo sát về sự kiện, mà trong sự nối kết các sự kiện có thể hiển lộ (hoặc tiềm ẩn) một biến cố nào đó. Cho nên, khi khảo sát một biến cố còn có nghĩa là mỗ xẻ biến cố để đi vào từng sự kiện riêng lẻ. Mỗi biến cố là một vòng tròn nằm trong mắc xích của các sự kiện. Cái này sinh ra cái kia. Vậy có thể nói ngắn gọn, phương pháp luận sử học là khảo sát, phân tích, đối chiếu, suy luận về một chuỗi sự kiện lịch sử; trong khi phương pháp luận nghiên cứu là biết sử dụng các nguyên tắc khoa học để hỗ trợ (phương tiện) cho phương pháp luận sử học.  Do đó, dù lịch sử không phải là một khoa học chính xác, nhưng ngôn ngữ lịch sử là ngôn ngữ của sự kiện, chứ không thể là ngôn ngữ trừu tượng của triết học, hay ngôn ngữ cảm thức của văn chương.  Viết tiểu sử (biography) về một nhân vật lãnh đạo đã từ trần đã lâu trong một xã hội chiến tranh triền miên đã là vấn đề khó, huống gì viết về người lãnh tụ trong một chế độ chính trị nặng tuyên truyền, bưng bít là còn nhiêu khê hơn. Giả như tác giả Nguyễn đắc Xuân phác thảo (outline) trước một bảng điểm thời gian (time tables) từ lúc ông Hồ chí Minh sinh ra cho đến ngày làm bồi trên tàu Latouche Tréville của hãng Chargeurs Réunis, xuất dương --để liên hệ kết nối các sự kiện lại với nhau một cách lôgíc, thì sẽ tránh được sự chồng chéo sự kiện mâu thuẫn, đầu voi đuôi chuột. Nhưng đó cũng chỉ là cách giải quyết tạm thời trong một xã hội khép kín, trong một chế độ chính trị tự cô lập. Trong thời đại thông tin internet, sự sai lầm và che đậy sớm muộn cũng sẽ bị bày ra dưới ánh sáng mặt trời.&lt;br /&gt;(Xin cám ơn nhà nghiên cứu Trần đông Phong (và ông Nguyễn đắc Xuân ký tặng tôi sách lúc gặp tôi ở Huế vào năm 2002) đã cho tôi cơ hội để chia sẻ quan điểm với quý vị.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tuesday, March 27, 2007&lt;br /&gt;NVH. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chú thích bổ sung: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(*) Tưởng cũng nên nhắc lại trong bài điểm sách cuốn "Viết cho Mẹ và Quốc Hội", Như Phong Lê văn Tiến đã nhắc lại lời kể của tác giả Nguyễn văn Trấn "...Ông cũng cho ta nghe lời người Chú tâm sự với một thằng Cháu là Phan văn Khải mà ngày hôm nay đang ngự chót vót trong Bộ Chính Trị..." Một giai thoại khá thú vị khác, Ông Trấn kể: "...hồi tháng Chín năm 1945 khi nghe tin Hồ chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bà con Nam Bộ hỏi nhau: "Hồ chí Minh là thừng cha nào!"... Vì cớ sự đó nên mới có chuyện khi ông "Hồ-hữu-khuynh" đi dự Hội nghị Fontainebleau, ông Bùi Lâm tiễn đưa đã ghé tai bảo nhỏ với bác, "Đi kỳ này đừng bán nước nhé!" (Phan văn Hùm, thân thế và sự nghiệp, Trần ngươn Phiêu, sđd, trang 393). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(**) Tác giả Nguyễn đắc Xuân trong footnote (1) trang 43, còn ghi lại một giai thoại "thục sư" của cụ Cử Sắc. Khi dùng từ ngữ "thục sư", hẳn tác giả NĐX muốn thi-vị-hóa nghề gõ đầu trẻ của cụ Sắc ("thục" có nghĩa là cái nhà nhỏ), thay vì dùng "gia sư", thầy kèm trẻ tại gia; nhưng "thục" còn có nghĩa là phụ nữ -"Cho hay thục nữ chí cao" -truyện Kiều. Bởi vậy, Thanh Tịnh mới kể rằng, "...Nguyễn sanh Huy đã từng là thầy dạy Hán tự ở nhà Bà Kí (chị cả của Dục Đức, cô ruột của vua Thành Thái -NĐX chú thích), phụ nữ ly hôn của Diệp văn Cương ở Sài Gòn. Nguyễn sanh Huy đã dạy học cho con trai ông này tên là Diệp văn Kỳ, hiện (1920) là nhà báo ở Sài Gòn. Nguyễn sanh Huy chỉ được nuôi ăn ở nhà bà Kiêm nhưng không lãnh 1 đồng lương nào." Ông Thanh Tịnh quả là đa sự, bởi qua giai thoại này lại làm cho hậu thế càng thêm thắc mắc, cụ 'sanh Huy' làm "thục sư" mà chỉ ăn ở nhà bà Kiêm thôi, không lãnh 1 đồng lương nào, thì hẳn là bà Kiêm phải mang ơn nghĩa nặng. Ông Diệp văn Cương về sau bị Việt Minh giết là chuyện cũng đành, thế nhưng cụ 'sanh Huy' ăn ở nhà bà Kiêm vào năm nào? Hai con trai cụ đang ở đâu? Chẳng lẽ trong một thời gian từ 1898 đến 1901 và trong mấy tháng ngắn ngủi của cuối năm 1900 (tháng 2/1901 cụ đổ Phó Bảng), mà cụ phải làm nhiều chuyện quá: được triều đình cử vô Bình Định, ra Thanh Hóa chấm thi Hương, ghé Nghệ An xây mộ cho song thân, là vừa kèm trẻ ở nhà cụ Sĩ Độ lẫn "ăn ở" nhà bà Kiêm, thì đúng cụ 'sanh Huy' là người thiên biến vạn hóa. Song, lại thêm một nghi vấn sử nữa: Thời gian cụ cử Sắc làm "thục sư", "ăn ở nhà bà Kiêm" là vào lúc nào? Trước khi, trong khi hay sau khi cụ bà Hoàng thị Loan bạo bệnh mà lìa trần?? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://1.bp.blogspot.com/_sg40lZ1x57E/S13anzDGLxI/AAAAAAAAAAc/5Tx4amo3Iho/s1600-h/307-bqchieu-dvgiao.gif"&gt;&lt;img style="cursor:pointer; cursor:hand;width: 199px; height: 320px;" src="http://1.bp.blogspot.com/_sg40lZ1x57E/S13anzDGLxI/AAAAAAAAAAc/5Tx4amo3Iho/s320/307-bqchieu-dvgiao.gif" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5430737102931635986" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;a href="http://4.bp.blogspot.com/_sg40lZ1x57E/S13aepcin0I/AAAAAAAAAAU/idzEtafrZSU/s1600-h/307-h-bqchieu.gif"&gt;&lt;img style="cursor:pointer; cursor:hand;width: 125px; height: 153px;" src="http://4.bp.blogspot.com/_sg40lZ1x57E/S13aepcin0I/AAAAAAAAAAU/idzEtafrZSU/s320/307-h-bqchieu.gif" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5430736945735180098" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;H1.-cụ bà Henriette Bùi quang Chiêu (con gái ông BQC, 100 tuổi). Hình của vietnamexodusà&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;H2.-Hai ông Dương văn Giáo và Bùi quang Chiêu (phải) trên chuyến tàu xuất dương sang Pháp [nguồn: vietnamexodus]:   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Nghe Tường Thắng "phỏng vấn" nhà biên khảo Trần đông Phong: &lt;br /&gt;Bấm lên hàng này để nghe lại phần 1 |  Phần 2&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;In lại từ © copyright giaodiem.us | 2006&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-4913603726528746275?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/4913603726528746275/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=4913603726528746275' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/4913603726528746275'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/4913603726528746275'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/vae-tuong-niem-nha-bien-khao-tran-ong.html' title='…Để tưởng niệm nhà biên khảo Trần Đông Phong'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://1.bp.blogspot.com/_sg40lZ1x57E/S13anzDGLxI/AAAAAAAAAAc/5Tx4amo3Iho/s72-c/307-bqchieu-dvgiao.gif' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-5758170663326683520</id><published>2010-01-23T22:11:00.000-08:00</published><updated>2010-01-23T22:15:36.385-08:00</updated><title type='text'>Chữ "Nhẫn" của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp</title><content type='html'>&lt;a href="http://3.bp.blogspot.com/_sg40lZ1x57E/S1vlbC8BIbI/AAAAAAAAAAM/FrqoQTbgIe0/s1600-h/2-08-nh-vng.gif"&gt;&lt;img style="float:left; margin:0 10px 10px 0;cursor:pointer; cursor:hand;width: 143px; height: 191px;" src="http://3.bp.blogspot.com/_sg40lZ1x57E/S1vlbC8BIbI/AAAAAAAAAAM/FrqoQTbgIe0/s320/2-08-nh-vng.gif" border="0" alt=""id="BLOGGER_PHOTO_ID_5430186028533096882" /&gt;&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;Thursday, July 02, 2009&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vào gần cuối năm 2005, tôi được ông Phan Mạnh Lương mời về Santa Ana để dự một cuộc họp với “nhóm Giao Điểm” tại nhà ông Đỗ hữu Tài. Buổi tối hôm ấy, tôi nhớ có mặt các nhân vật sau: các ông Hồng Quang, Mật Nghiêm ĐNP, Phan M.Lương, Đỗ H.Tài, sư Nhật Từ, Trần tiễn Huyến , có vài người em của ông T. mà tôi không quen và cũng không cần nhớ tên. Giữa buổi, tôi nhận được cú phôn từ đâu đó gọi tới của ông Đỗ hữu Chí (em ông Tài) hỏi thăm tôi vài câu vờ vĩnh, vớ vẫn… Tôi biết anh nầy có ý định muốn nhờ tôi điều gì đó nhưng còn ngại ngùng, không muốn nói thẳng. Gần cuối cuộc nói chuyện, trao đổi ý kiến với nhau, ông ĐHT. trao cho tôi một tấm hình chụp ĐT Võ Nguyên Giáp đang ngồi thiền định trong thế hoa sen. Ông T. nói tặng tôi và cho biết đó là tấm hình chụp ở tư gia của ĐT. Giáp có người mang từ VN qua.  Tôi cầm tấm hình xem thật lâu, xúc cảm.  Một ý tưởng nảy sinh trong đầu. Tấm hình này là cả một “công án thiền”, chứ không bình thường!. (1)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Một thời gian ngắn trước đó, trên website giaodiem.com bùng vỡ một cuộc tranh luận nội bộ, chung quy là bởi loạt bài về Điện Biên Phủ của tác giả Nguyên Vũ (Vũ Ngự Chiêu). Tôi có nghe dư luận nói, bố của ông Nguyên Vũ từng là đảng viên QDĐ bị Việt Minh giết. Tôi không quan tâm tới dư luận đó. Quyết định đăng loạt bài của ông NV về trận Điện Biên Phủ vì một số giá trị khách quan về nghiên cứu sử của ông, chứ không vì ý định chính trị xu thời thế nào đó của người viết (nếu có!) hay vì chủ trương của giaodiem.com. Dĩ nhiên, nội dung thiên biên khảo của NV. làm cho hình ảnh người anh hùng Điện Biên nhạt mầu đi, vì sự góp mặt chỉ đạo của các cố vấn quân sự do Mao Trạch Đông gởi sang, mà tài liệu của NV. không phải là nguồn duy nhất trong các sách sử tiếng Việt đã từng tiết lộ…&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Người phản ứng đầu tiên và mạnh mẽ nhất là bài phản biện của ông Lê Trọng Văn. Mạnh đến nỗi trong nội dung bài viết mang theo các từ ngữ nặng lời… Tác giả NV. đối đáp một cách cay  cú, có lẽ vì giận dữ bởi một số từ ngữ của ông LTV.  Rồi, ông Trần Chung Ngọc tham gia phản biện, mặc dầu khéo léo nhưng độc giả vẫn thấy được quan điểm ông bênh vực cho ai. Còn có một tác giả khác trong nước tham dự để bênh vực cho ĐT. Giáp. Công bằng mà nói, bài viết của ông LTV. thiếu cân lượng, chưa đủ trình độ để phản bác quan điểm sử của VNC, điều đó làm cho tôi thất vọng là không thể giữ cho website giaodiem.com được nổi bật là một diễn đàn công luận, để cuối cùng trong vai trò tổng luận tôi có thể bênh vực một cách nhẹ nhàng nhưng hợp lý một vị tướng anh hùng dân tộc đã thắng được “thằng Tây”. Ngoài điều đó ra, không thể che dấu cảm tình thiên vị “địa-phương-tính”, vì tướng Giáp xuất thân từ Quảng Bình (làng An Xá, huyện Lệ Thủy) cùng quê với các ông nội, ông cố tôi. Hơn thế nữa, có một giai thoại là tôi có ông bác tên Tự (đã chết) là người yêu của bà Võ thị Lành (em gái của tướng Giáp), đã từng sống chung với nhau như vợ chồng, nhưng hôn nhân không thành vì bên phía gia đình của cố tôi (ông nội anh) chê là không ‘môn đăng hộ đối’, vì gia đình bà Lành nghèo khổ.  Giai thoại nầy, tôi đã được xác nhận nhiều lần với anh mình, với các người anh chú bác (như anh R. ở VN, các anh Đ., U. ở Texas...) càng làm cho tôi thương cảm về gia thế của ông hơn. Có gốc gác tổ tiên của người Việt nào mà không nghèo nàn, không xuất thân từ đồng ruộng!?  Tổ tiên khởi thủy của người Việt là một anh chăn trâu, biết cày bừa, cấy mạ… (2)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong thời điểm đó, dù chênh lệch về thời gian, nhưng cũng tạm gọi là đồng thời, trong nước có chiến dịch hạ bệ, có thể nói tệ hơn nữa là hạ uy danh của ĐT. Võ Nguyên Giáp. “Sự cố” đó hẳn có nhiều độc giả đã biết, xin miễn nhắc lại tình tiết chính trị của nó.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Ở bên ngoài, tác giả Bùi Tín lại phát động một phản chiến dịch tố cáo các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, và nhất là vai trò của Tổng Cục 2, bênh vực tướng Giáp… và sau đó, một loạt các cựu tướng lãnh công thần của Điện Biên Phủ cũng phản ứng để đứng lên bênh vực cho Tướng Giáp. Mâu thuẫn chính trị xem chừng nổ lớn, mọi người chờ đợi một biến cố gì đó sẽ xảy ra, nhưng rồi mọi chuyện lại trở nên êm đềm… Ở nước ngoài, vì không thấy biến cố chính trị nào bên trong xảy ra, có lúc ông Bùi Tín đã chê trách tướng Giáp là "nhu nhược, yếu hèn"!.&lt;br /&gt;                                    &lt;br /&gt;                            *   *   * &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau cuộc họp ở nhà ông ĐHT. trở về nhà, tôi đã có dự định sẽ viết một điều gì đó về tấm hình của tướng Giáp. Một bữa, tìm được trên “đống sách điện tử” (Electronic Books) cuốn sách mỏng của ông Frederic F. Clairmont viết về tướng Giáp và trận Điện Biên Phủ. Mặc dù cuốn sách chừng trăm trang thôi, nhưng có một số chi tiết độc đáo, sống động. Tôi đọc liền một mách. Và như thế là cơ duyên của tấm hình và bài viết đến cùng lúc, tôi viết một bài ngắn, tựa đề: ‘Một sự trùng hợp tình cờ giữa tấm hình của ĐT. Võ Nguyên Giáp và cuốn Hồi ký của Frederic F. Clairmont.’&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Độc giả có thể đọc lại bài viết ấy theo đường link dưới đây:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://giaodiem.us/us-2006/12-06/w-nvh-vng-photo.pdf&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Trong bài viết ấy, tôi có ghi rõ là sẽ đề cập thêm về ý nghĩa của tấm hình mà tôi từng nghĩ đó là một “công án thiền”, chứ không phải là tấm hình bình thường.  Thế rồi, tôi chẳng tìm ra được nội dung ý nghĩa của công án đó, và quên luôn. Lúc ấy, tôi nghĩ tôi còn mắc nợ với độc giả…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Cuối năm 2007, tôi quyết định hồi hương. Việc đầu tiên cần làm là sẽ mua một căn nhà ở Sài Gòn, tiện đường lưu thông và gần bệnh viện để đem mẹ tôi về sống thêm một vài năm nữa. Nếu bà cụ có chết thì sẽ được chôn cất trên quê nhà, và ít nữa ở gần nơi ba tôi đã mất. Tôi hết sức vất vả để tìm cho ra một căn nhà vừa với túi tiền và với thủ tục và điều lệ để đứng chủ quyền căn nhà. Cuối cùng, cũng tìm mua được nhà, nhưng chủ quyền thì còn lấp lửng. Mặc kệ, mua cái đã. Tôi trở về Mỹ vào trước Tết (cuối năm 2007) để thu xếp đón mẹ tôi về. Nhưng vì nhiều lý do, mẹ tôi không thể đi được. Rất buồn, nên trong vòng 10 hôm, tôi lại trở về Việt Nam. Chủ quyền căn nhà là tôi vẫn chưa thể nào được hợp thức hóa, dù đã tốn khá nhiều tiền cho phí tổn giấy tờ và thủ tục rồi cho văn phòng luật sư là người của nhóm GĐ.  Có thể tôi khôn mà không ngoan. Cái khôn của tôi là khi về đã nhanh nhẫu bắt liên lạc với mấy ông trong giới Phật giáo, vì nghĩ đã là Phật tử thì lòng dạ họ chân thật, giúp người thay vì hại nhau!! Cái khôn ấy không may trở thành cái nạn về sau, muốn thoát ra đã quá muộn. (Nói thế, nhưng cũng phải mở ngoặc để lòng nhớ tới cái tình, tới những trao gửi tâm huyết các sư đáng kính như: thầy Chơn L., Chơn K., anh Sơn-Tân Phú…)  Qua họ, tôi nhận thấy thêm chế độ cộng sản là một tai họa cho những người dân thầm lặng. Họ đau khổ và không ưa chế độ! (3)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tết về, tôi hưởng xuân một mình, đi mua cây hoa về trồng chậu trên sân thượng. Nhìn ngắm cây cối thấy cũng mát mắt. Tôi mến cái sân thượng nầy. Mỗi đêm không ngủ được, tôi mở cửa ra sân thượng, ngồi một mình ngắm sao và thấy đất trời bao la. Ở đây tôi thường trực thấy mình gần gũi với không gian hơn là nơi xứ lạnh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Trong dịp festival Huế tháng 4/2008, tôi trở về Huế mấy ngày. Tôi có đứa cháu là Đoàn L. làm ở khách sạn Morin, có căn nhà nằm phía sau phủ Tuy Lý Vương, nhà một lầu mà gió lồng lộng thổi, nên rất thích. Mỗi lần về Huế, tôi thường cư ngụ tại căn nhà đó. Lần hồi mới biết thêm cách đó không xa là nhà của anh Trần Vàng Sao và Nguyễn Khoa Điềm. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hôm từ giã trở về Sài Gòn, cháu tôi rủ đi mua sắm ở một ‘siêu thị’ thuộc khách sạn Màu Xanh (?) thì phải, nghe L. nói hệ thống khách sạn nầy là cổ phần hợp doanh của tập đoàn điện lực và mấy ông Tướng của quân đội nhân dân.  Tôi thấy buồn cho cái xứ Huế nầy lắm, gọi là siêu thị nhưng có thấy ai mua sắm gì đâu. Tiền đâu mà dân đi vào mua ở những chỗ mắc mỏ nầy. Chắc họ bày đặt bắt chước siêu thị Mỹ, nhưng để kiếm tiền từ khách du lịch mà thôi.  Đảo mắt một vòng quanh, tôi chợt nhìn thấy một gian hàng bày bán các bức thư pháp viết trên tấm liễn đan kết bằng tre vót nhỏ. Trông nét chữ bay bướm, làm tôi thích. Lựa chọn trong số 5 tấm liễn, tôi bất chợt nhận ra bốn câu thư pháp về chữ “Nhẫn”, dưới ký tên là Võ Nguyên Giáp. Thư pháp được một họa sĩ xứ Huế nào đó viết thật đẹp, tôi quên khuấy tên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hốt nhiên, tôi liên tưởng ngay đến tấm hình tọa thiền của Tướng Giáp trước đó.&lt;br /&gt;Giờ đây, chỉ nhớ đại ý của bốn câu ấy như sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Nhẫn để thấy yêu thương&lt;br /&gt;Nhẫn để thấy cái vô thường&lt;br /&gt;Nhẫn để được vẹn toàn&lt;br /&gt;Nhẫn để anh em cốt nhục chớ tìm đàng hại nhau.&lt;/em&gt;&lt;br /&gt;(phía dưới đề tên: Võ Nguyên Giáp)              &lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;Vậy là nhờ cơ duyên, rất 'vô tư', tôi tìm thấy được câu trả lời ý nghĩa về một “công án thiền” cho tấm hình của ông Võ Nguyên Giáp. Bất giác tôi xúc động và thấy vui sướng quá đi. Ngồi trên máy bay trở về Sài Gòn mà tôi miên man suy nghĩ về bốn câu của chữ “Nhẫn” đó. Mà câu cuối cùng là câu sáng tạo và có nhiều ẩn ý nhất. Ai là “anh em cốt nhục” của tướng Giáp?  Nghĩ rộng thì đó là con dân người Việt trong một nước. Nghĩ gần, thì “anh em cốt nhục” chính là những người từng được gọi là “đồng chí” vào sinh ra tử với tướng Giáp.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau một thời gian ngắn bị “hạ nhục”, một số nhân vật cấp tướng lãnh của quân đội Cộng sản VN, có thể là đàn em, là thân hữu, là đồng môn của tướng Giáp –mà ở khu Tư, khu Năm (đại biểu như Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh) thì có khá nhiều, đã công khai đứng ra bênh vực cho ĐT. Võ Nguyên Giáp để chống lại thế lực chủ động hại ông. Chỉ cần một 'chút dầu' bằng cái gật đầu của Tướng Giáp, thì ngọn lửa căm giận sẽ bùng lên ngút trời… Một cuộc đổ máu chính trị sẽ xảy ra và không ai biết hậu quả của nó sẽ ra sao cả.  Nhưng, ĐT. Giáp đã im lặng nhẫn nhục để cho “anh em cốt nhục chớ tìm đàng hại nhau”, thì đúng đó cái hạnh của một vị tướng văn hóa dân tộc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi muốn kết luận cho ý nghĩa của tấm hình đó và gọi là  “công án Nhẫn” của một ông Tướng nên danh nhờ hàng vạn cốt khô, nhưng cuối đời vẫn mang cái hạnh Bồ Tát. (4)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                   *   *   *&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Gần hơn nửa năm tôi mới hoàn tất được thủ tục  đứng tên nhà; nhưng cuối cùng tôi vẫn bị chơi “khăm”, tên chủ quyên căn nhà không phải là tôi, mà là của công ty đến lúc cầm giấy tờ trên tay mới biết bị xí gạt.  Đó là một “công ty miễn cưỡng”, tôi phải thành lập để được hợp pháp hóa mua nhà. Đồng thời, qua việc mua nhà, tôi được quan sát rõ hơn một hệ thống tham nhũng bất lương, với sự cấu kết từ các cơ quan hàng ngang, hàng dọc liên ngành, cán bộ Nam - Bắc, cán bộ cũ - cán bộ mới, hệ thống thuế má bắt chước nham nhỡ từ chế độ VNCH, từ Mỹ (do các “nhân tài” nào đó từ nước ngoài về cố vấn). Đó là một hệ thống thuế má có tác dụng ngược, thay vì thu tóm tiền dân và doanh nghiệp cho ngân sách quốc gia trở thành phương tiện để cán bộ đục khoét ngân sách nhà nước. (5)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chứng kiến tận mắt hoàn cảnh khốn khổ của người dân vẫn tồn tại gần 27 năm từ ngày tôi rời khỏi nước, điểm mặt được lòng tham lam tiền của vật chất của đám quan chức cán bộ, lòng dân ly tán, lòng người tẻ lạnh…không phải chỉ ở Sài Gòn, mà ở bất cứ nơi nào tôi đi qua, từ Sài Gòn đi ra Bình Định, Phan Rang, Phan Thiết, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng… ra cho tới Huế.  Tôi chán nản, nên tôi quyết định bán nhà. Tôi điện thoại về mẹ tôi bên Mỹ, cho biết nếu bán được nhà, con sẽ về Huế ở cho tới ngày chết. Mẹ tôi thì thào trong phôn, “Vú già rồi không còn sống bao lâu nữa, con hãy sáng suốt quyết định cho tương lai của con.”   Rồi một hôm, tôi nhận được cú phôn của chị TKL từ Đức gọi về, hỏi thăm. Sau khi biết tường tận một số chuyện, chị ấy khuyên tôi “Thôi H. nên về lại Mỹ. KL về lại Đức mà thấy như trở lại thiên đường. Bên đó dể sợ quá đi.”  Câu nói ấy làm cho tôi bừng tỉnh một chút, nhưng trời ơi, 27 năm trước tôi ra đi đâu phải đi tìm chốn thiên đường!  Dù sao, tôi vẫn nhớ để cám ơn câu nói của chị TKL.&lt;br /&gt;Nghĩ quanh quẫn ngày này qua ngày khác, cuối cùng tôi quyết định dứt khoát bán nhà và dọt lẹ.   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bán cái nhà đứng tên “công ty miễn cưỡng” còn là một cái nợ trần ai khác nữa, dù bán đổ bán tháo, bán vất đi.  Cuối cùng tôi bán được nhà cho một ông cán bộ dầu khí người Bắc, vợ là một người gốc Bình Định.  Người đứng tên mua nhà là bà vợ có một cái tên rất đáng ghi nhớ: Nguyễn Thụy Ngô Đình Lệ Thủy!  Sau khi đồng ý mua, người chồng nói với tôi, ông quyết định mua vì thấy mấy tấm liễn thư pháp treo trên tường của tôi, trong có hẳn nhiên là có tấm “chữ Nhẫn” của ĐT. Giáp, nhưng tôi nghĩ, ông quên nói còn có thêm tấm hình tọa thiền của tướng Giáp mà tôi đã lồng vào khung kính để trên bàn làm việc.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bán nhà lỗ là mất đi một số tiền lớn, tôi còn bán rẻ hoặc tặng không đồ đạc cây cối xe cộ cho bất cứ người nghèo nào thấy cảm mến, trong số đó có cô con gái “mất dạy” của tôi là NH Hoài Vy. Nói "mất dạy" vì thật sự tôi có được ở chung với cô con gái này từ trong bụng mẹ tới ngày lớn khôn ngày nào đâu mà biểu tôi dạy!  Trước ngày tôi về nước, cháu nói sẽ giúp tôi với điều kiện…nghe thật lạ tai, vì đó không phải là câu nói từ một tân hồn trong trắng và có tình nghĩa cha con. Nhưng dầu sao con gái mình đã từng khoe, “ Ba có biết ông Lê Đức Anh không. Cháu của ông Lê Đức Anh là bạn học của con!”.  Dù không thắc mắc gì điều đó, nhưng nghe được “giọt máu” của mình có bạn bè, giao tiếp với dòng họ làm lớn cũng mừng thầm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi đổi vé máy bay ngày về thật bất ngờ, chỉ một ngày sau khi tôi đã chuyển được số tiền bán nhà lỗ vốn ấy về Mỹ bằng phôn mà tôi đã nghĩ đùa trong đầu là một "telecash-exchange".  Ngồi xuống ghế máy bay vừa đúng lúc cài nút an toàn xong thì nghe điện thoại di động reo. Nhìn nhanh vào máy thì thấy số phôn của chú công an trẻ được “người lớn” cắt cử để theo dõi giúp đỡ cho tôi trong những ngày tới. Bỗng một cô tiếp viên người Taiwan có đôi môi mọng ước nũng nịu với tôi, “Sao ông không chịu tắt cái phôn di động ấy đi!”. Tôi vội tắt phôn và mở lời xin lỗi. Có muốn trả lời với chú công an có giọng Nam dễ thương ấy cũng không được nữa rồi.&lt;br /&gt;Goodbye quê hương!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; Phụ ghi bổ túc ngày:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(1) Tôi linh cảm có một "conspiracy" từ lâu rồi. Theo tôi, nguyên tắc để hiểu tường tận về một  "theory of conspiracy" thì phải hiểu được ai là kẻ chủ động, ai là kẻ chơi cờ, ai sẽ là nạn nhân... ai vì đại nghĩa, ai bất chính, ai quân tử, ai tiểu nhân...từ đó có thể nhìn thấy cái hậu quả của nó là gì. Vì chưa nắm được nội dung đó, nên tôi chỉ mĩm cười ngu ngơ như không biết gì.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(2) Cho tới giờ nầy, tôi vẫn chưa biết mặt mũi của ông Nguyên Vũ ra sao cả. Sự xuất hiện của NV. trên webiste giaodiem.com xuất phát từ TVT. và HVG. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(3) Sau khi trở về Mỹ chừng vài tháng, ngày 20/10/2008 tôi nhận được email của sư CL. nói thẳng ra là tôi bị ông MM. (làm việc cho công an) hại... Xin ghi nhận và cảm ơn sư CL.; Chính tôi là người gặp ông ta để tặng cho ông một ít tiền bạc như lời hứa với sư NT. lúc gắp ở Mỹ mà! Tôi nghe NTừ kể MM từng là đệ tử của Thầy QĐ mà phải tù tội, giờ sống không nơi nương tự khốn khổ lắm nên đem lòng thương cảm.  Nhưng nếu sự thật đó chỉ là sự dối trá, và người ta niệm Phật với một bồ dao găm trong bụng thì cũng không phải là điều mới mẻ gì.  Lời cảnh giác đó tôi không quan tâm bằng lời của chị TKL nói, "thầy TQ đã nói rồi đừng có chơi với thằng đó !..."  Phải chăng "thằng đó là kẻ độc hiểm"?, một kẻ ưa làm thầy người khác, từng được xưng tụng là lãnh tụ thanh niên Phật tử tranh đấu?... Trước đây, tôi hoàn toàn không biết gì về quá khứ của "thằng đó" cả!. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(4) Theo quan niệm của tôi -"Bồ Tát",  là kẻ ý thức được (vì mình) mà gây ra mối họa sát sinh, nên phải tìm cách ngăn chận lại. "Dù xây chín bậc phù đồ; Không bằng làm phúc cứu cho một người"!  (Có thể có người không đồng ý với quan điểm nầy, bởi giả sử cần phải sát sinh nhỏ để mang lại hạnh phúc cho hàng triệu sự sống khác thì sao? / "Sát nhất miêu cứu vạn thử.")&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(5) Tôi thí dụ như : "thuế Giá trị gia tăng" (Accelerated Value) đánh trên hàng hóa là bắt chước của VNCH từ năm 1971; chính quyền csvn đã áp dụng một cách bừa bãi, ngu xuẩn. Hình như họ không hiểu được (trong một hoàn cảnh kinh tế đặc thù nào đó) tại sao người ta cần phải áp dụng thuế "Trị giá gia tăng" (danh từ của thời VNCH). Nhưng trong môi trường thu thuế của CQCS, từ các cơ quan thu thuế đến nơi nhận thuế là 'Kho Bạc' (tổ chức xuống đến cấp quận ở thành phố) có một sự móc nối ngầm, số tiền thu từ loại thuế nầy (trong nhiều trường hợp là bất công, vô lý và hại dân qua phương pháp kế toán thuế; và nạn nhân lớn nhất vẫn là những "chú Việt kiều" từ hải ngoại về làm ăn) bị thất thoát (có thể là trọn gói trong nhiều trường hợp) và đi vào túi của các cán bộ ngầm chia nhau.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-5758170663326683520?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/5758170663326683520/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=5758170663326683520' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/5758170663326683520'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/5758170663326683520'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/chu-nhan-cua-ai-tuong-vo-nguyen-giap.html' title='Chữ &quot;Nhẫn&quot; của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><media:thumbnail xmlns:media='http://search.yahoo.com/mrss/' url='http://3.bp.blogspot.com/_sg40lZ1x57E/S1vlbC8BIbI/AAAAAAAAAAM/FrqoQTbgIe0/s72-c/2-08-nh-vng.gif' height='72' width='72'/><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-7258530861209265956</id><published>2010-01-23T20:49:00.000-08:00</published><updated>2010-01-23T20:51:48.640-08:00</updated><title type='text'>Phỏng vấn Hoàng Phủ Ngọc Tường về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế (1968) của chương trình : ‘Vietnam: a Television History’</title><content type='html'>Nguồn: tài liệu Anh ngữ lưu cảo của mạng lưới the OpenVault (WBGH )]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần I. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần dịch của Nguyễn Văn Hóa: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;em&gt;Vài lời của người dịch: &lt;/em&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Mục đích của tôi khi muốn tìm hiểu và đào sâu đến những nhân vật (chính thức theo Cộng sản, hoặc là những Phật tử thuần túy trong các phong trào tranh đấu bột phát từ đêm 28/5/1963 ở Huế cho đến khi chế độ miền Nam sụp đổ) đã can dự trong bối cảnh hận thù giữa Công Giáo - Phật Giáo, giữa Quốc Gia – Cộng Sản, đặc biệt là những thanh niên cư dân người Huế, hoặc từng cư trú hoặc theo học ở Huế -họ là ai? Bản chất và con người của họ như thế nào?  Bởi lý, tôi cũng là một người sinh trưởng ở Huế (suốt 19 năm) tôi nghĩ tôi cũng có những cái giống họ, nhưng tại sao tôi không nhận ra sự “cực đoan” và "hận thù" của chính mình? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tại sao họ hận thù chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm khủng khiếp đến thế, và tại sao họ thù ghét đạo Công Giáo cũng khủng khiếp không kém? Có phải vì hoàn cảnh của cá nhân tôi ( 6 tuổi + 5 năm học tiểu học trường làng, 3 năm học trường ‘đạo’, 5 năm theo học ở trường kỹ thuật.. tổng cộng 19 năm) cho đến khi hoàn tất chương trình trung học rồi di cư vào Sài Gòn với gia đình, tôi không có cơ hội để chạm trán, chứng kiến “sự thù hận” hay tham dự vào trò chơi thù hận.. nên không biết gì về những biến sự xã hội chung quanh mình cả?   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong dịp về nước, vào tháng 4/2008, tôi được ông Nguyễn Hòa (chủ mạng lưới ‘văn chương Việt’ –có thể là một người bạn thân của Trần Kiêm Đoàn!? –bởi, trong một bữa ăn được mời mà tôi đến muộn gặp mặt cả hai người) là một người mới làm quen, nhưng đi đâu, và gặp gỡ ai trong mọi trường hợp.. đều giới thiệu tôi là người chủ động web Giao Điểm ở Mỹ [với hàm ý là một người chủ động 'chống-Công-Giáo']. Tôi không hề đồng ý với lời giới thiệu đó, nhưng cũng chưa hề cần phủ nhận. Một hôm, ông Hòa mời tôi đến ngôi nhà của một phụ nữ ở San Jose về nước thực hiện mạng lưới Yahoo Việt ở VN. Ngôi nhà của bà ấy ở quận 7 (là quận mới, quận “sang trọng” có nhiều ngoại kiều Pháp cư ngụ…) ; và trong buổi tiệc nhỏ hôm ấy, tôi đã gặp gỡ khá nhiều nhân vật “văn chương”, trong số đó có nhà văn Đào Hiếu (xin viết tắt ĐH). Cho đến lúc ấy tôi vẫn chưa biết anh ta là ai, nhưng qua câu chuyện trong bia rượu, tôi mới vỡ lẽ Đào Hiếu là một nhà văn đã từng theo Việt Cộng dưới thời các ông Thiệu-Kỳ). Dư luận thường gọi anh ĐH như là một “người Cộng sản phản tỉnh”,  có một website ngang nhiên trước công cộng nói về sự “Lạc Đường” với Cộng sản của mình. Tôi hỏi địa chỉ mạng lưới ấy, anh cho biết. Quả nhiên, về nhà tôi mở được và theo dõi suốt ‘diễn trình’ phản tỉnh của ĐH dưới bầu trời của thành-phố-Hồ-chí-Minh. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     “Quay đầu” về Mỹ vào tháng 8/2008, một khoảng thời gian sau đó, tôi lại đọc thêm những chia xẻ, phân trần về Trịnh Công Sơn của ĐH sau khi Trịnh Cung tung lên mạng một bài viết gây “sôi nổi” về TCS. Nhưng, điều ngạc nhiên cho chính tôi, mọi việc mình đều có thể quên…nhưng tôi lại không quên được một ý kiến của một độc giả phụ nữ nào đó đã ca ngợi trong sự nâng cao hào khí của Đào Hiếu lại nhắc nhỡ đến “cái hèn của một người Huế” mà bà/ cô ta đã liên hệ tới nhân vật Tôn Thất Lập vào một dịp xuất hiện trên truyền hình nào đó đã bênh vực cho chế độ Cộng sản –trông thật hèn từ nội dung, cung cách..cho đến giọng nói ! (Nghe cái giọng nói cũng đủ thấy “hèn”!?) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Từ đó, tự tôi đặt ra cho mình một số câu hỏi khác: Liệu những “hành xử” trước và sau thời kỳ hoạn nạn 1975, những nhân vật mà dư luận trong nước (ở nơi riêng tư, kín đáo trong những bàn nhậu, những bàn tròn-bàn vuông cà phê.. bên thân hữu mới dám phê bình, nói xấu huỵch toẹt) ra tới nước ngoài thì “lên án” công khai từ báo chí, sách vở cho tới những mạng lưới internet, như: Hoàng Phủ Ngọc Tường (và em ông), Nguyễn Đắc Xuân, và một số nhân vật theo Cộng sản khác can dự tới vụ thảm sát Tết Mậu Thân Huế ..đều là những người hèn? –Bởi, nếu đích thực họ là những người say mê với “lý tưởng cách mạng”, tôn thờ Hồ Chí Minh, tại sao họ không dám nhìn nhận mình là những kẻ.. đã từng xử tử những ‘kẻ thù’ mang nợ máu? –Ngược lại, nếu họ muốn tự hòa giãi với quá khứ, và muốn sống trong hiện tại bằng lòng “từ bi, bác ái” tại sao họ không nêu thẳng thắn ý kiến…cần có những cuộc giải oan, cho gia đình những nạn nhân đã oan tử được có những nấm mồ, những bia đá kỷ niệm, những cúng tế vong linh (dân chết như rạ trong ngày thất thủ Kinh đô) như truyền thống của người dân Huế mỗi năm trong ngày Rằm tháng Bảy?  Ngoài ra có thể,  một cung cách anh hùng-trí thức nào đó là họ tự tìm phương cách kết liễu đời mình và để lại những lời trăn trối “muôn thưở” cho những người sống hả dạ, chuyển lòng cảm kích?   –Tại sao, đến giờ phút cuối đời, Họ (những kẻ nhân danh hai chữ 'cách mạng' để thi hành những điều độc ác) vẫn tha thiết với sự sống  –trong khi  chữ nghĩa của họ không đủ và bất khả xóa sạch những lời nguyền rủa?   Họ có điều gì oan ức, bị ngộ nhận, hàm oan, nạn nhân của những “con dê tế thần” chăng?  -Hay chỉ đơn giản vì họ hèn?   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Đối với phía kẻ thù của họ (những người có chức quyền, ủng hộ, tham gia dưới chính quyền của Ngô Đình Diệm hay về sau Nguyễn Văn Thiệu) thí dụ như Liên Thành (và vân vân..) tại sao không dám thẳng thắn nhìn nhận mình là kẻ ra tay (hoặc ra lệnh) giết chết Ngô Kha và vân vân… chỉ vì lý do chính đáng.…  Bởi, không dám (và tránh né) trách nhiệm của mình, là vì lòng thù hận vẫn còn, là vì sợ mang tiếng mình là ‘kẻ giết người’ –là điều vô lương tệ hại?  Có phải đó cũng là thái độ hèn? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Và, chúng ta thử nghĩ xem, khi một nhu cầu hàn gắn vết thương của dân tộc, một nhu cầu xóa bỏ độc tài, đấu tranh dân chủ cho cả nước, thì thái độ “hèn” của hai phía, nếu còn tồn tại, thì chính quyền Cộng sản Hà Nội vẫn là ngư ông hưởng lợi, và họ có đủ lý do để cứ ôm mãi cái quyền lực “bòn mót túi” của từng người dân (trong và ngoài lãnh thổ), kể luôn cả hành động sẵn sàng “mãi quốc cầu vinh hoa, phú quý”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Từ đó, trong tôi vướng mắc một câu hỏi “trọng đại” hơn : Liệu tất cả những “thằng đàn ông” Huế đều hèn? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Với sự tra hỏi lương tâm đó, tôi tìm cách dịch lại bài phỏng vấn ông Hoàng Phủ Ngọc Tường của một nhà báo nước ngoài vào ngày 29/2/1982 –được lưu trữ trong kho tư liệu của mạng lưới “the Open Vault” (có đường nối kết kèm theo bài viết) không phải là để phụ họa vào việc ‘buộc tội’ HPNT. Nhưng là để soi chiếu tâm lý của một nhân vật -từ “giọng điệu” của một người rất Cộng sản (gồm những yếu tính như: sắt máu, cương quyết, thẳng thừng, không nương tay, không tình cảm..)  đến những lời lẽ mềm mỏng, “dễ thương”, đầy tình cảm của những niềm đau không vơi… của HPNT 15 năm sau, trong cuộc phỏng vấn của bà Thụy Khuê ngày 29/12/1997 !  -Tại sao có sự khác biệt  đó? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Do đó, tôi có ý muốn tự mình trả lời câu hỏi đó, và tất nhiên để có câu trả lời đích xác sẽ có những chặng đường khác nữa. Vài lời ngắn ngủi này là để dạo đầu cho một bài viết tâm huyết hơn trong thời gian tới, trước nhất là để chia xẻ cho những người cùng thế hệ như tôi (năm 1963 -chừng 12, 13 tuổi; ngày miền Nam sụp đổ (1975), vừa mới tốt nghiệp đại học, hay vừa xong năm đầu bậc cao học) và sau đó là vài thế hệ trẻ hơn nữa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tôi dịch bài viết này trong vòng hơn hai tiếng, và có những thận trọng cần thiết như –tôi cố gắng đặt mình vào tâm lý của nhân vật HPNT trong lúc trả lời, cũng như suy nghĩ thêm về những địa-phương-tính, “lý-tưởng-tính” trong từ ngữ.. nhằm vào việc có thể bộc lộ được bản chất, vai trò của người được phỏng vấn (theo suy nghĩ tiếng Việt), bởi lẽ nội dung cuộc phỏng vấn đã được chuyển thành Anh ngữ. Nếu có gì sai sót, tôi xin nhận trách nhiệm (và cả lời ‘chỉ giáo’) trước với các ông HPNT, thân hữu của ông, cũng như quý độc giả đứng ở bất cứ quan điểm nào. Xin có lời cảm ơn đến mọi người. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                                         (Cuối bài dịch có vài ghi chú nhỏ.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Wednesday, November 18, 2009 &lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phỏng vấn ông Hoàng Phủ Ngọc Tường của chương trình “VietNam: a Television History” ngày 29/02/1982 &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;-- Phỏng vấn hỏi (H): Ông có thể mô tả biến cố nổi dậy ở Huế đặc biệt liên quan tới vụ thảm sát từ lúc ông ở đấy? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--HPNT trả lời:  Đó là một chiến thắng vĩ đại của nhân dân ở Huế. Thế nhưng, cái giá cho sự chiến thắng này là một sự trả thù chưa từng thấy của Mỹ và quân đội bù nhìn sau đó. (Ông không có…thông dịch ngay bây giờ chứ?)  Thế nên người dân Huế đã phải trả giá cao nhất so với các cư dân khắp cả nước. Bởi vì không có nơi nào khác Mỹ đã chịu sự tổn hại về chính trị và vật chất nhiều như ở Huế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Sự trả thù cực kỳ khủng khiếp. Song, theo quan điểm của tôi –quan điểm của một người đã xuyên suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp và rồi đến thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, bọn thực dân mới có nhiều tinh ranh hơn so với thực dân (cũ) (1). Hay nói cách khác, tôi thường cho rằng bọn thực dân (cũ) nhiều thô bạo hơn bọn thực dân mới. Và điều này chắc chắn đúng với hoàn cảnh trong suốt Tổng tấn công Tết 1968. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Bởi vì mọi tội ác tạo ra bởi Mỹ, càng lâu càng được thế giới bên ngoài quan tâm, chúng chuyển hóa thành tội ác của cách mạng chống lại nhân dân họ. Tôi muốn ám chỉ việc đã dùng vụ thảm sát như một vũ khí đặc biệt trên bàn hòa đàm Pari nhằm bôi nhọ cách mạng Việt Nam.  Đây là điều tôi biết rất rõ vì tôi là một nhân chứng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi sẽ nói cho ông mọi sự một cách rất khách quan.  Trước tiên, những người bị giết chết được biết đến, trong số đó chắc chắn có người bị giết chết bởi bộ đội của chúng tôi vì khi chúng tôi đến nhà chúng để đòi hỏi chúng đầu hàng, chúng bắn vào quân giải phóng làm họ bị thương. Nên chi những người này phải bị bắn ngay lập tức. Trong số người này có tên phó thị trưởng, hắn đang sống ở Huế lúc đó. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Từ lầu hai trong căn nhà của hắn, hắn đã bắn vào bộ đội và từ chối đầu hàng. Thế nhưng không có nhiều lắm loại này. Trong vài trường hợp khác, một số bị giết vì đã từng tra tấn các cư dân, gây cho cả nhiều gia đình phải tù tội và bị đày ra “côn đảo” (2) . Và thế rồi khi cách mạng vào thành phố, các cư dân đi lục soát tìm cho ra những tên bạo ngược này để trừ khử chúng như trừ khử những con rắn độc, mà nếu như để cho sống sót, chúng sẽ tạo nhiều tội ác hơn nữa trong chiến tranh. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Và mặc dầu chính sách của chúng tôi là chỉ nhằm cải tạo và không bao giờ giết bất cứ ai đầu hàng chúng tôi, song khi cư dân của thành phố đã nắm công lý trong bàn tay của chính họ, thì các cấp lãnh đạo cách mạng của chúng tôi không còn có thể kiểm soát dân chúng trong suốt thời kỳ mà trận chiến đang diễn ra cuồng điên.  Nhưng tôi phải nói cho ông biết rằng một trong những bọn bạo ngược đó có ít nhất là 10 tên –chúng là người thân trong gia đình của những người khác. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Thế nên, đối với bất cứ ai từng theo dõi hoàn cảnh của chiến tranh, sự thể đó thực ra là một sự trả thù nhỏ nhoi. Và, theo quan điểm của tôi, mọi cuộc cách mạng đều giống nhau. Bởi vì đó là một cuộc chiến tranh mà sức mạnh quân sự và trang bị cực kỳ chênh lệch. Nhân dân chúng tôi không sở hữu được những thứ vũ khí như đế quốc Mỹ có, cho nên cách (chúng tôi-cộng sản) hành xử công lý rất là nhẹ nhàng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Nên chi đa số người dân đầu hàng và bị giam giữ bởi chúng tôi đều được đưa vào các trại ‘học tập cải tạo’ trong rừng. Hầu như phần lớn họ đã được thả về. Chỉ có một số ít đau yếu bởi vì họ không chịu đựng được với khí hậu rừng rú. Song, điều ấy cũng chẳng sao cả. Họ đều được trở về với gia đình.  Nhưng có một số bị giết. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần lớn những người này bị giết và chôn trong thành phố rồi sau đó được khai quật bởi Mỹ và chính quyền tay sai để mà làm phim ảnh; trước hết (3), dân chúng bị giết bởi bom đạn Mỹ bắn phá trong lúc chúng phản công. Thí dụ, Mỹ đã dội bom ngay một bệnh viện gần chợ Đông Ba, giết hại và làm bị thương trên 200 người. (4) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Tôi đi bộ khắp các đường phố vào đêm, vào lúc ấy tôi nghĩ tôi đang bước trên đống bùn. Thế mà khi tôi bật cái đèn ‘pin’ lên, máu khắp mọi nơi. Cả một khu vực bị bỏ bom bởi bọn Mỹ. Và thế rồi, trong những ngày cuối khi chúng tôi triệt thoái ra khỏi thành phố, kẻ thù đã lượm những xác chết vì bom đạn này rồi chôn họ.  Lý do thứ hai (3), có rất nhiều gia đình có người thân đã tham gia cách mạng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Có rất nhiều người theo lực lượng (‘cách mạng’) vào rừng sau cuộc tấn công Tết. Và khi kẻ thù trở vào trong thành phố, chúng đã giết những người thân của các gia đình này rồi đem chôn trong những hầm tập thể (5) .  Nhiều xác chết của lính Giải phóng –những người mà chúng tôi không có thời giờ để thu nhặt xác cũng bị chúng đem bỏ vào những hố chôn tập thể. Cộng thêm vào thanh niên và những tù nhân họ đi theo chúng tôi vào rừng cũng bị giết hại bởi máy bay Mỹ chết chung với nhiều đồng chí của chúng tôi. (6) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Trong suốt thời kỳ từ 1975 đến 1977, trong khi đào các đường mương và kênh dẫn thủy, chúng tôi đã khám phá rất nhiều hố chôn tập thể cái-được-gọi-là nạn nhân bị thảm sát thì toàn là những người mang đồng phục quân-Giải-phóng và nón-tai-bèo của Lực lượng (giải-phóng) (7).  Điều này đã thực sự nói lên mưu mô quanh co giảo quyệt của bọn tân-thực-dân.  Chúng giết hai con chim bằng một hòn đá.  Trước hết là vì chúng muốn tìm cách che dấu tội ác của chúng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hai nữa là chúng muốn đổ lên đầu bộ đội cách mạng những tội ác của bọn chúng. Đấy là điều mà tôi đã chứng kiến.  Và một sử gia người Mỹ (8) sau đó viếng thăm Huế đã nói cách công khai rằng đấy là chiến dịch đại-tuyên-truyền của Mỹ -một chiến dịch cho cân xứng với –cái giá về tiền bạc được chấp thuận bởi tên Kissinger nhằm bôi nhọ Mặt Trận Giái Phóng Miền Nam về Tết Mậu Thân 1968.   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Điểm khác mà tôi muốn nhấn mạnh là cả một bộ máy tuyên truyền của Mỹ với thế giới đã cố dùng mọi nổ lực để đổi trắng thay đen về sự biến Tết (Mậu Thân) nhằm đánh lừa thế giới. Sự thực là có con số của bọn bạo tàn đã bị giết vì sự giận dữ của dân chúng. Nhưng con số này quá nhỏ so với con số quá lớn mà những người còn sống sót trong sự biến Tết (Mậu Thân) chạy ra nước ngoài và giờ đây họ đã vu khống có-tổ-chức nhằm chống lại cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, (ông) phải hiểu cho rằng mặc dù chúng tôi được sự ủng hộ khắp thế giới khi chúng tôi chiến đấu chống lại kẻ thù của chúng tôi, mà chỉ có nhân dân chúng tôi bị bịt mồm và chịu đổ máu trước những họng súng của kẻ thù. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Trong suốt cuộc chiến đấu, chúng tôi đã phải đem lại công lý chống lại kẻ thù không đội trời chung của nhân dân –những kẻ mà thế giới đã nhìn nhận như những tội phạm chiến tranh. Tòa án Bertrand Russell, là một thí dụ  đã, cho rằng nếu đã có tòa-án-kiểu-Nuremberg, thì có hàng ngàn người được tha chết trong trận Tấn công Tết (Mậu Thân) –là những kẻ đáng bị treo cổ sau khi chiến tranh chấm dứt. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nhưng, như Bertrand Russell đã dẫn chứng, công lý chẳng bao giờ được thi hành. Vì vậy, mà một anh lính Mỹ như Trung úy William Calley đã giết nhiều người ở Sơn Mai mà vẫn chưa bị treo cổ.  (9) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Nhằm “biển lận” sự chú ý của nhân dân khỏi tội ác đó, chúng đã giả tạo một cuộc thảm sát Tết (Mậu Thân) để bôi bẩn cách mạng. Điều này chứng tỏ Mỹ không quan tâm đến vấn đề danh dự của một nước lớn đi đánh một nước nhỏ bé.  Chính quyền Mỹ đã nói láo về.. trận Tấn công tết (Mậu Thân). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Người phỏng vấn: Vui lòng tiếp tuc… &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--HPNT:  Ngô Đình Diệm đích thực là một tên phát-xít. Tôi sống ở đấy dưới thời Ngô Đình Diệm.  Và tôi đã nhận ra rằng Diệm muốn trở thành một ông vua (khác). Trước đó Diệm đã là một ông quan lớn. Thí dụ về gia đình của Diệm sống gần cầu Phủ Cam ở Huế đã bắt ép các nhà trí thức, quan chức, giáo sư đại học ăn bận theo kiểu xưa đến chầu hầu trước sân nhà hàng năm trong các dịp Tết và (không nghe rõ)… , đấu hót những lời chúc tụng Năm Mới và Chúc Thọ Ngô Đình Diệm, bà mẹ và các người thân khác trong gia đình của ông ta.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Mẹ của Diệm ngồi trên “ngai vàng” (golden throne) để quan sát suốt buổi lễ. Chỉ chuyện này thôi cũng cho ông thấy chế độ dân chủ của Diệm nghĩa là gì.  Thực sự mà nói, dân chủ thì không có những điều như thế.  Đấy là một hệ thống phát-xít và phong kiến. Đấy là gia đình của Diệm. Về chính sách của Diệm, ông ta nổ lực xóa tan mọi tự do dân chủ của người dân. Thí dụ như ông ta đã ban hành một đạo luật gọi là… &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Mục đích của Diệm là triệt hạ người Cộng sản. Và đấy là những gì mà người Mỹ muốn ông ta làm.  Nhờ vậy mà ông ta có thể tránh thoát mọi ảnh hưởng của Cách Mạng tháng Tám trong thành phố này, một thành phố đã đánh sập chế độ quân chủ và trương lên ngọn cờ Cách Mạng tháng Tám.  Thế nên tất cả các gia đình có con em tập kết đi ra Bắc (sau Hiệp ước Giơ-neo/ Geneva) từng người một bị cầm tù, lưu đày và tra tấn cho tới khi họ phải lên tiếng tố cáo những người thân của mình. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Sau đó, rất nhiều gia đình cố gắng để che dấu tung tích là họ có con em và người thân tập kết ra Bắc. Đấy là thứ chống-Cộng áp bức người dân quên đi màu cờ của cách mạng.  Và thế rồi sự đàn áp càng gia tăng với bất cứ phương cách nào có thể áp dụng được.  Một trong những phương cách đó là những phụ nữ có chồng tập kết ra Bắc đang có bầu bị đá vào bụng cho tới lúc bị sẩy thai. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Bọn tra tấn nói rằng dù chỉ một giọt máu trong giòng máu Cộng sản cũng không thể để lại trong bụng của những phụ nữ miền Nam.  Mọi phương tiện này khác được thực thi bằng Đạo Luật 10/59 mà Diệm đã ban bố. Ở Huế trong thời gian này là một nơi thật bỉ ổi giam cầm người dân gọi là “Chín Hầm”.  Những người yêu nước đều bị giam giữ ở đó.  Khi chế độ Diệm bị lật đổ, chúng tôi đến cứu những tù nhân bị nhốt trong các hầm đó và thấy họ như những người rừng rú. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Tóc và râu họ mọc dài và chỉ còn xương với da.  Những tù nhân này bị bắt đứng suốt khi những cơn mưa nhỏ xuống khe hỡ thì đôi chân của họ ngập trong nước năm này qua năm khác.  Họ chỉ được đứng, nên phần ở hậu môn và đàng lưng hoàn toàn bị nhiễm trùng.  Họ không còn là con người nữa và họ bị giam giữ ở đấy cho tới khi chết.  “Chín Hầm” là phương tiện đàn áp bỉ ỗi chưa từng có được áp dụng cho những ai bị coi là Cộng sản. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;--Tôi không biết chế độ Hitler tàn bạo như thế nào, nhưng tôi có thể nói chắc rằng chưa có những tội ác chống-nhân-loại nào mà có thể so sánh với chế độ Diệm sau thời Hitler.  Càng lúc sự tự do tôn giáo được quan tâm, Ngô Đình Thục –anh của Diệm và là tổng giám mục ở vùng này đã ép buộc tất cả Phật tử và người dân không-tôn-giáo phải theo Công Giáo. Vào dịp lễ Phật Đản chúng bắt Phật tử phải hạ cờ quạt, biểu ngữ (Phật Giáo) xuống. Điều đó dẫn tới sự nổi dậy của Phật tử và hậu quả, sự chống đối khắp thành phố dẫn tới sự sụp đổ chế độ Ngô Đình Diệm.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Chú thích : &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(1) HPNT muốn so sánh sự khác nhau về mức độ ‘quỷ quyệt’ giữa thực dân mới (Mỹ) và thực dân cũ (Pháp), nhưng ông chỉ dùng chữ “colonialist”, nên tôi mở ngoặc thêm từ “cũ” chữ nghiêng cho rõ nghĩa. Từ đây mọi chữ nghiêng trong ngoặc đều mang ý nghĩa như thế cả. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(2) “Penal island” là hòn đảo giam giữ các tội phạm, nhưng trong thực tế, ở VN từ thời Pháp cho đến VNCH, Côn Đảo là nơi duy nhất giam giữ các ‘tù chính trị phạm’, nên tôi dùng luôn địa danh Côn Đảo cho dể hiểu. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(3) Trong bài trả lời phỏng bà Thụy Khuê (1997 –kèm theo ở dưới đây), HPNT có đề cập tới lần phỏng lần này –như bằng cớ mà người ta “vu oan” cho ông là người đã nói những kẻ bị giết chỉ là những con rắn độc. Ông có nhắc lại ba (lý do) mà ông đã trả lời; nhưng đúng ra không ăn khớp với nội dung HPNT đã biện minh.  Các nhóm chữ nghiêng tiếp theo là để độc giả lưu ý tới (3) lý do đó. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(4) Biến cố Mậu Thân 1968 –tôi bị kẹt lại Huế (đúng ra là đã ra phi trường Phú Bài để về Sài Gòn ăn Tết với gia đình , nhưng vì ham chơi nên tới trễ). Sau đó, tôi ‘tản cư’ về làng An Truyền, thuộc quận Phú Vang. Dĩ nhiên, sau khi trận chiến kết thúc (26 ngày), tôi trở lại phố Huế cũng có chứng kiến nhiều chuyện sau biến cố, nhưng không nghe nói đến vụ máy bay Mỹ bỏ bom trên bệnh viện Trung Ương Huế (theo HPNT gần chợ Đông Ba chỉ có là bệnh viên này!). Nếu có đến 200 người chết và bị thương thì đa số phải là bệnh nhân? Nếu có ai biết rõ vụ bỏ bom này, xin cho biết. Đa tạ. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(5) “Hầm chôn tập thể” (Mass graves) với “Hố chôn tập thể” có sự khác nhau. Bởi, “Hố” có thể là những hố đào cá nhân để tránh bom đạn, hoặc các “hố chiến đấu” của bộ đội VC hay của quân VNCH; nhưng trong bản dịch, ghi là “Communal graves”. “Hầm chôn tập thể” có chủ đích là người ta đào hầm này nhằm vào việc chôn sống nhiều nạn nhân hoặc chôn những người đã bị giết. Cho nên, tôi vẫn cho đó là “hầm chôn tập thể”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(6) Lời phân bua của HPNT trong đoạn này, tôi nhận xét thấy rất giống với lời của Nguyễn Đắc Xuân kể lại trong dịp đến Mỹ trong tháng 4/2006. Tối hôm đó (gần cuối tháng 4/08), tại nhà của Trần Việt Long ở San Jose (bạn thân của các ông Nguyễn hữu Liêm, Lý Khôi Việt (đã chết), Phan Mạnh Lương (tổ chức Từ thiện GĐ)...có đủ mặt họ và tôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(7) “the Lotus-shaped hats” không thể nào dịch là những “nón Hoa-sen”, vì thực tế ai cũng từng thấy bộ đội Việt cộng thường đội nón ka-ki màu xanh lá cây… gọi là “nón tai bèo” (vì có hình dạng giống lá cây bèo nước). &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(8) Có lẽ HPNT muốn nói đến ông Stanley Karnow?  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(9) Ông HPNT muốn nói đến vụ thảm sát ở Mỹ Lai (hai ấp chiến lược Sơn Mỹ và Sơn Khê thuộc làng Mỹ Lai.) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt; __________________________________________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Bản chính (Anh ngữ) của bài phỏng vấn: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Propaganda of casualties at the Battle of Hue &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Roll 69 of Vietnam Project, Feb 29, 1982, 512, Take 1. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sync Interviewer: Could you describe the events of the Hue uprising and particularly relating to the massacre since he was there? Hué  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sync Hoang Phu Ngoc Tuong: It was a gigantic victory of the people in Hue. But then the price for this victory was an unprecedented retaliation by the Americans and the puppet troops which followed. (You don’t have to...provide the translation right now?) And so the inhabitants of Hue had to pay the highest price of all the urban populations in our country. This was because nowhere else had the American suffered so much physical and political losses as in Hue.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The retaliation was extremely horrible. But in my opinion, the opinion of a person who had gone through the resistance period against the French and the period of war against the United States, the neocolonialists were more intelligent than the colonialists. Or in other words, I usually said that the colonialists were much more crude than the neocolonialists. And this was certainly true with the situation during the 1968 Tet Offensive.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;This was because all the crimes committed by the United States were turned, as far as the outside world was concerned, into crimes committed by the revolutionaries against their own people. I am referring to the massacre which the United States used as a kind of special weapon at the negotiating table in Paris in order to smear the Vietnamese revolution. This was something I knew very well because I was a witness.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;And I will tell you the whole thing in a very objective way. First, as far as the people who were killed were concerned, there were certainly people who had been killed by our troops because when we came to their house and asked them to surrender, they shot at our soldiers and wounded them. So these people had to be shot on the spot . Among these people was the deputy province chief who was living in Hue at the time.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;He shot down at the soldiers from the second floor of his house and refused to surrender. But there were not many people in this category. In some other cases, some people were killed for having tortured the inhabitants and caused whole families to be imprisoned and exiled to the penal island. And so when the revolution came into the city, the inhabitants went around and searched for those despots to get rid of  them just as they would get rid of poisonous snakes who, if allowed to remain alive, would cause further crimes in the war. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;And so, even though our policies were only to re-educate and never to kill anyone who surrendered to us, when the city inhabitants took justice in their own hands there was little our revolutionary commanders could do to control the population during the period when the fighting was raging . But I must tell you that each of those despots at least ten persons who were members of the other person’s family.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;And so, for any person who had followed the war situation at all, this was indeed a very light revenge. And, in my opinion, you have similar things in every revolution. This is because this was a war in which there was an extreme imbalance in terms of material and military strength. Our population did not possess the kinds of weapons the US imperialists had, and so the way they carried out their justice was extremely light.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;But the majority of the people who surrendered and detained by us were taken to the re-education camps in the jungle. Almost all of them were subsequently released. Only a few of those people got sick because they were not used to the climate in the jungle. But there was nothing to it. They were all returned to their families. But people did get killed.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The majority of these people who got killed and buried in this city and were subsequently  exhumed by the Americans and the puppet government in order to make their films were, first of all, people who had been killed by the American bombing and strafing during the counterattacks. For example, the Americans dropped a bomb smack into a hospital in the Dong Ba neighborhood, killing and wounding over 200 persons.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;I walked through the streets at night at that time and I thought I was walking in the mud. But when I turned on my flashlight, I saw blood all over the neighborhood. The whole neighborhood had been bombed down by the Americans. And so, during the last days when we were withdrawing from the city, the enemy collected these bodies of bombing victims and buried them. Secondly, there were many families whose members participated in the revolution.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;There were many people who followed our forces into the jungle after the Tet offensive. And so when the enemy came into the city, they killed the members of these families and had them taken to the communal graves . Bodies of Liberation soldiers whom we did not have time to retrieve  were also taken to the mass graves. In addition the young people and the prisoners of war who walked with us into the jungle were killed by the American planes along with our cadres.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;During the period from 1975—1977 when we dug canals and irrigation ditches, we discovered that in the mass graves of the so-called massacre victims there were full of people who were wearing the lotus-shaped hats (Liberation forces) and wearing Liberation forces’ uniforms. This was indeed the devious trick of the neocolonialists. They killed two birds with one stone. First, they managed to hide their crimes. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;And second, they heaped all their crimes on the heads of the revolutionary troops. This is something I witnessed. And an American historian who visited Hue after that said publicly that he thought that it was a big propaganda campaign by the Americans—a campaign of strategic proportion  —which cost the Americans a lot of money and which was approved by Kissinger himself to smear the NLF on the Hue situation of Tet 1968.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Another thing I would like to emphasize is that the whole American propaganda machine in the world was utilized  in this effort to turn white into black on the Tet incident in order to deceive the whole world. It is true that a number of the despots was killed by the angry population. But this number is small compared to the large number of people who survived the Tet incident and fled abroad and who are now slandering organizing against the Vietnamese revolution. But you must understand that although we had support from all around the world, when we fought against our enemy it was only our people who were standing in front of the muzzles of the enemy’s guns and shedding our blood.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;And during this struggle, we had to carry out justice against the arch-enemies of our people, those people whom the world had recognized as war criminals. The Bertrand Russell tribunal, for example, had to concede that if there had been a Nuremberg-type of tribunal then thousands of people whose lives were spared during the Tet Offensive would still have deserve to be hanged after the war was over.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;But, as Bertrand Russell also stated, this justice would never be carried out. Therefore, an American soldier such at Lt. William Calley who killed many people in Son Mai is still not hanged.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;And in order to diver people’s attention from this kind of crime, they faked the Tet massacre in order to do a smear job on the revolution. This proves that the United States never paid any attention to the question of honor of a big country fighting against a small country. The American administrations have lied about... Tet Offensive, 1968  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sync Interviewer: Please continue.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sync Hoang Phu Ngoc Tuong: Ngo Dinh Diem was truly a fascist. I lived here throughout the Ngo Dinh Diem period. And I realized that Diem wanted to become another king. Formerly Diem had been a high court mandarin. For example, Diem’s family, which lived hear the Phai Cam bridge here in Hue, forced all the intellectuals, bureaucrats, and university professors to wear ancient garb to come to the courtyard every year on the occasion of Tet and (unreadable) there, chanting New Year’s wishes and Long Life to Ngo Dinh Diem, his mother and other members of his family.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;His mother was sitting on a golden throne observing all the rituals. This alone shows you what Diem meant by democracy. In fact, you can say that there was no such thing as democracy. There was only a feudal and fascistic system. This was what his family was like. As for his (Diem’s) policies, he strived to eradicate all the democratic freedoms of the ordinary people. For example, he issued a law code called...  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;His aim was to annihilate  all the Communists. And this was what the Americans wanted him to do. So he had to get rid of all the influences of the August Revolution in this city, a city which brought down the monarchy and hoisted the banner of the August Revolution. And so all the families whose children had been regrouped to the north (after the Geneva Agreement) were one by one imprisoned, exiled and tortured until they denounced their loved ones.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;After that, there were many families who tried their best to hide the fact that they had children and relatives who were now regrouped to the north. This was the kind of anti-Communist which forced the population to forget the color of the banner of the revolution. From then on, the repression went full speed ahead and every possible means was used. One of the means was that women whose husbands were now regrouped to the north and who were pregnant were kicked in the bellies until they aborted.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;The torturers said that you could not allow even a single drop of Communist blood in the belly of any woman in the south. This and other means were employed through the use of the Law Code no. 10/59 which Diem had decreed . In Hue at that time there was a very infamous  place for imprisoning people called the “Nine Tunnels”. Patriots were kept there. When the Diem regime was toppled we went into those tunnels to rescue the prisoners and saw that most of them were like jungle people.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;That is to say, they had long beards and hair and just skin and bones. These prisoners had to sit on platforms where rain water leaked down and where their feet were soaked in water year in year out. They could only sit up, and their behinds and backs were all infected. They did not look like human beings anymore and they were put there until they died. This was the very infamous “Nine Tunnels” where unprecedented repressive means were carried out against those considered to be Communists.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;I don’t know how cruel Hitler was, but I can certainly say that there were no crimes against human beings which resembled the crimes committed by the Diem regime here during the post-Hitler era. As far as religious freedoms were concerned, Ngo Dinh Thuc, Diem’s brother and the archbishop in charge of this area, forced all Buddhist and all non-religious people to worship as Catholics. On Buddhist anniversaries they forbade all Buddhist banners to be put up. This led to the Buddhist uprising and, subsequently, the city-wide protest which led finally to the downfall of Ngo Dinh Diem.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;  Nguồn:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;http://openvaultresearch.wgbh.org/record/display/index/pid/wgbh:e67ef62e29a364dbb7faeb55837714f9163fe9ec&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt; See this record in relation to others.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Source:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Series: Vietnam: A Television History&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Program: Tet, 1968&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Episode: 107&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Description: Hoang Phu Ngoc Tuong interview.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Topics: Hoàng, Phủ Ngọc Tường, Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam (1973), Geneva Conference (1954)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Media:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Type: Moving image/Original footage (1)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Physical format: Digital Betacam Cassette (1)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Total running time: 00:15:18&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;People:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Interviewee: Hoang Phu Ngoc Tuong &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;___________________________________________________________________________ &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Phần 2:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế&lt;br /&gt;(RFI, 12 tháng 7, 1997)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;Thụy Khuê: Thưa anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, đây là lần đầu tiên anh đến Pháp? Lý do gì đã khiến anh được đi? Xin anh cho biết cảm tưởng của anh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Hoàng Phủ Ngọc Tường: Đúng là lần đầu tiên tôi tới Pháp. Tôi sang Pháp qua cửa ngõ của nước Đức, ở đấy tôi đã nhận được sự bảo trợ của hiệp hội Schmitz Stiftung để đi dự tuần Việt Nam của tổ chức "Chung Một Thế Giới" ở thành phố Freiberg. Tiếp theo tôi đi dự hội thảo Euro-Việt III tại Amsterdam. Và sau đó tôi sang Pháp chơi. Ấn tượng mạnh nhất của tôi sau gần một tháng lãng du bên Tây là như thế này: Trước mắt tôi là một cuốn sách mà tưởng chừng như tôi đã biết hết mọi cái ở trong đó, nhưng chính lúc này tôi lại đang giở ra những trang đầu. Cuốn sách đó tên gọi là Châu Âu. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Thưa anh, nhân dịp này xin hỏi anh một vài vấn đề liên quan đến biến cố Mậu Thân ở Huế mà từ bao nhiêu năm nay, anh đã bị một số dư luận xem như anh có dính líu vào, hoặc anh là một trong những "thủ phạm" vụ Mậu Thân. Trước hết, xin anh cho biết: Mọi việc thực sự đã xẩy ra như thế nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HPNT: Hàng chục năm nay, mỗi năm cứ tới dịp 30 tháng 4, hoặc dịp Tết thì nhiều tờ báo hải ngoại lại đưa tên tôi ra làm con vật tế thần, bằng cách nói đi nói lại, y như thật, rằng tôi là một tên đồ tể Mậu Thân ở Huế. Thực ra thì đó là một sự bịa đặt, mang ý định vu khống hoàn toàn. Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sau năm 1975, ít ra là đã có ba tài liệu sau đây xác nhận rằng tôi không có mặt ở Huế hồi Mậu Thân:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;1. Nhiều người hay nhớ lõm bõm bài trả lời phỏng vấn của anh Lê Văn Hảo trên báo Quê Mẹ, xuất bản ở Paris, để buộc tội tôi. Thực ra thì trong bài này, tôi đã đọc kỹ, thấy anh Hảo nói rất đúng rằng, hồi Tết Mậu Thân, cả anh Hảo và tôi đều đang ở trên một vùng núi, cách xa Huế gần 50 cây số, và không hề có chuyện tôi về Huế để giết người.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;2. Bài viết của anh Đặng Tiến đăng trên báo Thông Luận, Paris, trong đó Đặng Tiến dẫn chứng nhiều nguồn tư liệu đã công bố ở trong nước, do nhiều nhân vật khác nhau cung cấp, bác bỏ những lời lẽ xảo ngôn lệnh sắc trên báo Thông Luận buộc tội tôi về chuyện giết người ở Huế trong năm Mậu Thân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;3. Trong cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, của Nhã Ca in sau biến cố Mậu Thân, tác giả cũng nói rằng: Phủ (tức là tôi), không về Huế, và nếu có về thì chắc cũng không giết người. Tôi thành thật cảm ơn chị Nhã Ca đã dành cho tôi điều nhìn nhận khách quan rất quan trọng này, dù trong cảnh tượng máu lửa hỗn quan hỗn quân của Huế Mậu Thân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Đã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi -Hoàng Phủ Ngọc Tường - lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là "đồ tể" Mậu Thân ở Huế được?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Như vậy thì anh đã làm gì trong thời gian Tết Mậu Thân? Anh ở đâu? Anh làm những chức vụ gì?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HPNT: Có một tổ chức chính trị của các lực lượng đấu tranh của phong trào Huế ra đời trong bối cảnh xuân Mậu Thân, ấy là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế, do anh Lê Văn Hảo làm Chủ tịch, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó chủ tịch. Với tư cách Tổng thư ký, tôi luôn luôn có mặt bên cạnh các vị kể trên để làm công tác chính trị của Liên Minh, tuyệt nhiên không dính líu gì đến chuyện nhúng tay vào máu ở Huế. Trụ sở chiến dịch của Liên Minh là một địa đạo Trường Sơn, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Huế. Trụ sở này, đã được mô tả đầy đủ trên báo Lao Động, ở trong nước cách đây hai tháng.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HPNT: Huế Mậu Thân đã xẩy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân.  Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.&lt;br /&gt;Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Vậy, theo anh, ai trách nhiệm những thảm sát ở Huế?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HPNT: Tôi không đủ thẩm quyền để phán xét bất cứ cá nhân nào. Xin trích dẫn theo trí nhớ một ý tưởng trong hồi ký của chính ông Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân: Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi. Qua bài hồi ký tâm huyết này, đã được công bố trên tạp chí Sông Hương, Huế, và sau đó, nếu tôi không nhớ lầm, đã được dịch và in toàn bộ trên báo Mỹ Newsweek, tác giả, Lê Minh (lúc đó đã nghỉ hưu), còn nhắc nhở rằng, điều quan trọng có thể làm, và phải làm bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Ngoài ra anh còn "được" hay "bị" là nhân vật của nhiều tiểu thuyết, đặc biệt là Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác. Tường trong tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác và anh, có chỗ nào giống nhau? Chỗ nào khác nhau?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HPNT: Có lẽ chỉ giống nhau ở cái nốt ruồi ở góc cằm, như Nguyễn Mộng Giác đã lưu ý độc giả vào cuối bộ sách. Ngoài ra thì không nên nói đến một sự giống hoặc khác nhau nào giữa một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết và một con người thực đang sống ở ngoài đời là tôi. Nhưng có điều khác nhau rất quan trọng là: Tôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, thì không có mặt trong Mậu Thân ở Huế như nhân vật trong tiểu thuyết của anh Nguyễn Mộng Giác. Và tôi cũng chưa bao giờ biết làm công việc của một tên chỉ điểm hèn hạ để hại bạn như là cái thằng Tường trong sách của anh Giác. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;À mà anh Nguyễn Mộng Giác này, chán chi tên mà tại sao anh lại lấy tên tôi để đặt cho cái nhân vật khốn khổ tội nghiệp của anh, khiến những kẻ độc miệng cứ nhè vào tôi mà vu khống, mà nguyền rủa mãi như vậy? Nếu nhân vật trong Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác mang một cái tên nào khác, thí dụ như Vách, Phên chẳng hạn, chắc chắn là không có gì dính líu tới Tường này cả.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Anh nghĩ sao về Giải Khăn Sô Cho Huế của chị Nhã Ca?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HPNT: Dù có một số sự việc không đúng sự thực, do có hoặc không có dụng ý của tác giả, Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay, viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng. Chị Nhã Ca làm tôi liên tưởng tới Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Về một lời tuyên bố của anh trong một phóng sự chiếu trên đài truyền hình Mỹ, Anh, Pháp ... mà nhiều người đã dựa vào đó để đả kích anh. Anh đã tuyên bố những lời ấy trong trường hợp như thế nào? Tại sao?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HPNT : Hồi đó, ông Burchett và đoàn làm phim "Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình" tới Huế, chọn tôi để chất vấn về chuyện tang tóc của Huế Mậu Thân. Tôi nhớ một cách đại thể, là tôi đã nói về ba thành phần nạn nhân khác nhau: 1) Những người chết do hành động trừng phạt của quân giải phóng dành cho những người thực sự có tội. 2) Những người bị giết oan. 3) Những nạn nhân chết do Mỹ ném bom vào đám đông hoặc quân chính phủ bắn giết trả đũa khi phản kích. Cả ba trường hợp này đều có thực, chết nằm xen kẽ nhau trên các đường phố Huế Mậu Thân.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Lâu rồi, trả lời ứng khẩu thế thôi, tôi không nhớ thật cụ thể những điều đã nói, và cũng không có dịp xem lại nguyên bản phim như nó đã được chiếu ở nước ngoài; nên không biết cuốn phim có tái hiện trung thành những ý tưởng của tôi hay không.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Xin anh một lời kết cho buổi nói chuyện hôm nay. Đối với những người đã "kết tội" anh, anh nghĩ sao? Và nói rộng ra đến tình trạng chung của các sự ước đoán và quy kết.?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;HPNT: Xin cám ơn đài RFI và chị Thụy Khuê đã dành cho tôi một cơ hội để tự bạch trước thính giả mà lâu nay, chắc có không ít người đã căm hận tôi, do tin lầm vào những lời vu khống của người khác. Người đời thường tình, dễ nghe, dễ tin, không nói làm gì; ở đây lại là những người cầm bút, là nhà văn, là nhà báo, họ chưa quen biết tôi, và tôi cũng chưa quen biết họ bao giờ. Sao người ta lại cứ mải say mê trong hành động vu khống kẻ khác như vậy. Sự lên án hoặc buộc tội là quyền chọn cách nhìn cuộc chiến, nhưng sự vu khống lại thuộc về nhân cách của người cầm bút.&lt;br /&gt;Tôi đã nói hết sự thật trong một lần. Xin thưa, từ nay đừng bắt tôi phải chịu trách nhiệm những tội lỗi mà tôi không hề đụng tay tới bao giờ, và mọi sự phán xét xin hãy dành cho những kẻ thích tạo dựng tên tuổi bằng cách lấy nhọ nồi bôi vào trán người khác. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Tôi xin chân thành biết ơn sự quan tâm của quý vị thính giả dành cho câu chuyện có phần nào liên quan tới lương tâm và danh dự của tôi, và xin bạn hữu ở khắp bốn phương trời, hãy giữ trọn vẹn lòng tin vào thằng bạn ngày xưa của mình, rằng Tường vẫn là một con người tính bản thiện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;TK: Xin cám ơn anh Hoàng Phủ Ngọc Tường. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;© Copyright Thuy Khue 1997&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-7258530861209265956?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/7258530861209265956/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=7258530861209265956' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7258530861209265956'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7258530861209265956'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/phong-van-hoang-phu-ngoc-tuong-ve-vu.html' title='&lt;strong&gt;Phỏng vấn Hoàng Phủ Ngọc Tường về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế (1968) của chương trình : ‘Vietnam: a Television History’&lt;/strong&gt;'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-8133390933973450945</id><published>2010-01-23T20:44:00.000-08:00</published><updated>2010-01-23T20:47:20.632-08:00</updated><title type='text'>…Để kéo dài ước mơ cho thế hệ màu-xanh-hy-vọng  </title><content type='html'>Nguyễn Văn Hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                                  “Hạt mưa sá nghĩ phận hèn”! –Kiều&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                         (Một ngày…nào đó vào đầu Xuân Nhâm Tuất - Dương lịch 1982) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Khi hai mẹ con của chị tôi và người anh kế tị nạn từ Tây Đức qua Mỹ đoàn tụ với gia đình theo đơn bảo lãnh của người anh trưởng được một năm, là lúc tôi khăn gói với túi xách nylon tị nạn cũng vừa đến Mỹ. Mấy anh chị em tôi chung tiền với nhau thuê một căn apartment 2 phòng ngủ trên đường số 5, nằm thẳng góc với trường Đại Học San Jose State. Cả thảy bốn người mà chỉ có 2 phòng ngủ, nên phải chia ra hai mẹ con người chị một phòng, tôi và người anh kế một phòng. Gộp tiền của nhà nước Mỹ chu cấp cho mỗi người, tính ra cũng đủ chi phí, còn có dư dã chút đỉnh, nên thỉnh thoảng vẫn có lúc ngồi cà phê, thuốc lá với bạn bè. Chị tôi nhờ siêng năng, nên thời gian ở Tây Đức họ cho đi làm thêm, khi qua Mỹ để dành chừng hơn 5 ngàn đôla, chơi sang tậu một chiếc xe Toyota Corolla mới keng. Chưa ai có bằng lái hết, mà chẳng ai dám lái…nên chiếc xe cứ đậu hoài trong cái garage có mái che, như để chưng diện vậy. Thấy vậy, tôi ngứa con mắt, tôi hỏi mượn chìa khóa xe, và leo lên phóng tà tà khắp cả chục con đường vắng. Lúc ấy thành phố San Jose chưa phát triển như bây giờ, có những con đường hai bên đầy cỏ, hoa dại mọc. Và, cũng vì chiếc xe mắc dịch ấy, nên chỉ mấy ở Mỹ chừng một tháng, lần đầu tiên tôi được nằm ngủ một đêm ở Sở Cảnh sát, cộng thêm 15 ngày mỗi cuối tuần phải đi làm phạt vệ sinh công cộng (thay vì đóng tiền phạt), vì tôi lái xe không có bằng mà hơi thở khi nói lại có mùi rượu…và bằng chứng không thể chối cãi được là bước chân đi rất là lạng quạng, dù ông police chỉ mới “test” hai câu đầu tiên.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Chiếc xe Toyota Corolla mắc dịch ấy về sau còn tạo ra cho tôi một điều oái ăm là nạn “bồ bịch” mà đến ngay ông Hồ Chí Minh vào thưở tam thập nhi lập đã từng quá “lăng nhăng”.  Căn cứ vào các sử liệu phong phú được phổ biến chừng hai thập niên trở lại, thấy cụ Hồ quá “lăng nhăng tình ái”. Mà nói “lăng nhăng” cũng không chính xác. “Lăng Nhăng” là hôm nay bà này, mai bà nọ. Còn cụ Hồ thì sống với một thân xác rất người phàm –sống-thực-tiễn, đói ăn khát uống, nên ông có một nhu cầu giải quyết sinh lý. Đến ngay cả các bộ hạ, đồng chí đàn em của ông cũng biết luôn cả nhu cầu tâm-sinh-lý đó nữa, nên nhờ vào uy quyền, ông đã từng “thoải mái” được giải quyết nhu cầu đó một cách kín đáo. Chỉ có điều họ là những kẻ giả dối về chính trị, nên họ không chỉ tìm cách khuất lấp, che đậy, mà còn cố đánh lừa vào tâm lý một đám quần chúng trong một đất nước đang còn mắc cạn trong những đầu óc hẹp về sự hiểu biết và suy nghĩ, họ tạo ra hình ảnh một ông-Hồ-anh-hùng-cô-độc vì nước thành một ông thánh sống. Tự nhiên, khi chết rồi ông trở thành ông thánh chết. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Phần tôi, nói thực lòng từ hơn sáu tháng trong các trại tị nạn cho đến khi qua Mỹ, tôi không nghĩ đến xác thịt nên không thích đi “chơi bời”, đúng nghĩa là đi “chơi đĩ”. Một thanh niên cường tráng, ở lứa tuổi ba mươi, ai mà không khao khát một thân xác phái nữ. Nhưng, cứ sau mỗi một lần “chơi đĩ” tôi có cảm tưởng đeo đẳng dài lâu là như “giao cấu” với một đống thịt, mặc dù là một “đống thịt” được cấu tạo đầy mỹ thuật. Tôi có cảm giác nhờn nhợn, chán nản, tầm thường… có khi còn lấn cấn một chút “quân tử Tàu” là thắc mắc vì sao em đẹp vậy mà đi làm một cái nghề thật oan uổng; đó là chưa kể những ám ảnh về những căn bệnh đáng hổ thẹn sẽ bám trên thân xác mình. Nghĩ là thế, nhưng bạn bè lôi cuốn thì vẫn khó khước từ. Dạo ấy, tôi có ông bạn Bắc kỳ-tên Mạnh rất mê “chơi đĩ”.  Mạnh cũng đang còn độc thân, cường tráng, qua Mỹ trước nhiều năm nên đã đi làm chuyên viên điện tử. Mỗi tháng nhét túi hai cái checks, nên tiền bạc rủng rĩnh. Cứ mỗi lần Mạnh lãnh tiền nhằm vào ngày cuối tuần thế nào cũng có màn thăm viếng mấy con Mỹ ở khu gần Đại học Berkeley. Phải là dân “sành chơi” và quen thuộc mới có thể gõ cửa vào được những căn phòng ấm áp, lịch sự nơi này. Khi “nhân thân” đã được mời vào phòng khách, bao giờ cũng được được “đáp lễ” bằng những ly Cognac, Martell không tính tiền. Ai uống rượu không được thì giải khát bằng bia đủ loại. Nơi đây là một căn building có con số rất dễ nhớ: 1945. Mỗi lần đi với Mạnh, hoặc có thêm vài thằng bạn khác viếng building 1945, là tôi chợt nhớ đến cười thầm –cuộc “cách-mạng-như-đi-dạo-phố” (theo tưởng nghĩ từ các tài liệu lịch sử) mùa Thu 1945 , và Hồ Chí Minh lên làm chủ tịch nước. Tôi hay nói thầm, “đi viện bảo tàng cách-mạng-1945 thăm mấy con đĩ Mỹ” để tự tìm niềm vui với những lần nhập cuộc đó. Không ai lại đi “chơi đĩ” bằng một bộ mặt băn khoăn bao giờ !&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Mạnh là một người bạn chí tình. Một chiều thứ bảy, thời tiết vào đông, ngoài trời mây âm u, tôi ở nhà một mình. Thật buồn. Tôi phôn cho Mạnh và bật khóc. ‘Mạnh ơi, đ..má tao đang nhớ vợ con và bà già’.  Đầu giây, nghe những tiếng “thổn thức” vừa hết câu của tôi, hắn đã cười hích hích như tiếng con Khỉ, không lớn như vừa đủ để “giải tỏa” cái tình cảm yếu mềm dễ hiểu của tôi, rồi chuyển thành tiếng, ‘Ối Giời, ra đi để lại mẹ già, vợ dại con thơ...không nhớ sao được. Thôi cứ ngồi nhà đợi, chừng 20 phút nữa, tao đến..’ Tôi không còn nhớ, hôm đó tụi tôi có lên Berkeley “chơi đĩ Mỹ” không, nhưng tình bạn gắn bó ấy kéo dài…cho đến khi Mạnh thành lập gia đình. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Sống ở trên đất Mỹ, từ những ngày đầu, tôi cũng như bao người Việt tị nạn ly hương khác, mỗi tháng nhận trợ cấp nhỏ vừa đủ để sống trong vài năm đầu, và tất nhiên tiếp tục đi học. Ban đầu là trau dồi lại vốn liếng Anh văn ọp ẹp, rồi học thêm nghề điện tử. Mỗi tháng vẫn nhịn bớt tiền tiêu vặt, chung với anh chị, gởi về nhà một thùng quà ‘căn bản’ là 2 pounds (có khi dấu nhét thêm vài tờ 20-đô ‘tiền tươi’ vào trong ngõ ngách của thùng quà.) Bên nhà, nếu không bị bọn hải quan tìm được và đánh cắp, thì vài tấm giấy tiền này có khi lại giá trị hơn cả thùng quà!  Cuộc sống cứ thế mà kéo dài ra.  Giấy tờ bảo lãnh vợ con thì đã làm ngay từ những ngày đầu tiên, nhưng không hy vọng gì chế độ Cộng sản sẽ cho đoàn tụ dễ dàng. Ai cũng hiểu điều đó. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Một ngày đẹp trời vào Xuân Nhâm Tuất (năm 1982), vợ chồng ông Ngọc (anh vợ tôi) và chị Tường Bích (chị vợ) từ Nam Cali lên thăm mộ chồng (ông Tường Phong, nghe nói chết vài năm trước vì bệnh ung thư, khi đang dạy học ở Stanford), rồi hẹn hò và mời tôi đi ăn tiệm. Cái danh về sự “tài giỏi” của ông Bùi Tường Phong tôi đã từng nghe ở Việt Nam. Chị Tường Bích lần đầu tiên tôi biết mặt, vì chị ấy đã xa nhà, đi du học Pháp từ lâu.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Chỗ hẹn của chúng tôi trong buổi ăn hôm ấy là quán hủ tiếu Anh Đào, nằm trên đường Santa Clara. Hôm ấy, chị Tường Bích mang theo cô con gái (duy nhất) với người chồng đã mệnh bạc, chừng như 6, 7 tuổi. Trông cô bé nhỏ nhắn, không xinh lắm, nhưng thật dễ thương và có khuôn mặt buồn.  Chúng tôi ngồi xây quanh một chiếc bàn tròn, quanh tường là cửa kiếng, gần lối cửa ra vào. Những tô hủ tiếu được bồi bàn mang ra còn nóng hổi, và khi chúng tôi cầm muỗng đũa quậy vào thức ăn chưa tới 5 phút, thì hốt nhiên nghe vài tiếng súng nổ póp..póp... vào bàn sát bên cạnh -có một số nam nữ choai choai, ăn bận trông có vẻ “bụi, yé yé” đang ngồi. Tiếng nổ không lớn lắm, có lẽ là vì loại súng nhỏ. Tôi thảng thốt vừa quay đầu nhìn ra phía cửa thì thấy một vài tên choai choai từ ngoài vào đang cầm súng bắn vào bàn bên cạnh. Một phản xạ rất tự nhiên, nhưng đồng thời một tia sáng chớp nhanh trong đầu –tôi nghĩ ngay đến sự an toàn của cô bé con chị Tường Bích trước. Tôi nhào vào ôm choàng người bé, miệng vừa hô lớn lên: Nằm hết xuống đất, tụi nó đang bắn nhau. Biến sự chỉ xảy ra trong nháy mắt...những người thân của tôi đồng nằm rạp xuống nền… thoang thoảng vài tiếng thút thít kéo dài ra thêm mấy chục giây.  Tôi liếc nhìn qua bên cạnh mình, một cậu thanh niên đang quằn quại với máu, cách vài bước có người khác nào đó nữa bị thương… Bọn hung thủ lên xe trốn chạy. Tôi không đủ thản nhiên, và cũng không thấy cần thiết, để nhìn kỷ, để biết rõ hơn…hành vi bạo động vừa qua là vì lẽ gì. Không cần biết tới bọn du thử du thực này là ai. Có thể chúng thanh toán nhau vì tình, vì tiền…hoặc vì một lý do khỉ gió nào đó…chẳng cần nói tới. Sau đó vài ngày, đọc tin biết có một cậu chết, một người khác bị thương…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Chúng tôi chưa hết hoàn hồn, nhưng một lát sau thì mọi người đã đứng dậy, cùng kéo nhau ra xe về nhà…Tôi thấy chị Tường Bích sợ quá, khóc. Anh B. Ngọc nhìn tôi với thái độ mến phục vì hành động vừa qua với cháu bé. Thật tình, tôi cũng không hiểu vì sao trong một giây sát na ấy, tôi có sự tính toán nhanh như chớp đó: Nếu có bị lạc đạn thì kẻ nhận lãnh phải là tôi, chứ không thể để cho cháu bé gái phải gánh chịu –dù cho điều đó có xảy ra hay không! Thế thôi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Về sau, tôi còn gặp lại chị Tường Bích vài lần nữa. Lần sau cùng, chị bàn với tôi là muốn đem tôi về Huntington Beach ở với chị. Chị muốn “nuôi” tôi ăn học cho thành tài (nói đúng là "thành danh"), trong khi chờ vợ con qua đoàn tụ. (Lúc ấy, chị Tường Bích đã là dược sĩ từ lâu.)  Với tình cảm tha thiết đó, tôi muốn nghe lời chị.  Tôi xiêu lòng. Nhưng rồi với chút máu “trượng phu”, tôi lại băn khoăn. Tại sao lại cần người chị vợ “nuôi” mình nhỉ? Đã qua được đất Mỹ, thì đâu phải cần ai nuôi ai?  Thế rồi, biết bao cú điện thoại, tôi cứ lần khân, và hẳn là chị ấy nản lòng không còn gọi nữa. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Cũng trong thời gian ấy, cách nhau chừng vài tháng thôi (!), bất ngờ tôi nhận được cú điện thoại của chị (ca sĩ) Hà Thanh. Dù không ‘bà con dòng họ’ gì với nhau –nhưng qua một thời gian dài…ở Sài Gòn, chị đã trở thành người thân của gia đình tôi. Chị “hụt” chuyến vượt biển năm 1979 vì nhân duyên, lẽ ra trong chuyến đi của anh tôi, phải có mẹ con chị. Mà không ngờ, chỉ vài năm sau đó chị đã được ra đi chính thức để đoàn tụ với người thân. Một chuyện hi hữu vào thời gian chế độ Bắc-cộng-trị cực kỳ khắc nghiệt.  Thật đáng mừng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Sau hơn mười năm chờ đợi, vợ con tôi cũng được đoàn tụ, nhưng để rồi tan vỡ… Có thể nào gỡ bỏ mọi phiền trược cuộc đời bằng mấy chữ “nhân duyên, vô thường", được không? Tôi không quan tâm nhiều đến sự ‘tan vỡ’ đó.  Tôi không bao giờ đánh giá tư cách của một người phụ nữ, kể cả người vợ-không-còn-yêu-mình-nữa. Theo tôi, người phụ nữ có hai thứ quyền bất khả xâm phạm: -quyền “yêu” bất cứ ai mà họ yêu và quyền chọn “sống một đời sống hạnh phúc” mà họ cảm nhận được sự hạnh phúc đó.  Điều quan trọng là tôi mãn nguyện, tôi hài lòng với thực tại, khi con tôi cũng như –những người con của các chị…Hà Thanh, Tường Bích, chị Phượng hàng xóm, một số người thân quen khác mà tôi nhận tin được …đã thành đạt, đã trở thành những người trưởng thành, hữu ích cho xã hội, mà nếu như hoàn cảnh của các cháu sống trong cái nợ đời, nợ trần gian, nợ xã hội-chính trị của một chế độ cực kỳ khắc nghiệt, kỳ thị-phân biệt được tính toán và sắp xếp theo một “chính sách về giai cấp” đầy nhỏ mọn, thấp kém… các cháu không có một cơ hội nào để trở thành cái biểu tượng cụ thể mà đám con cháu của đảng viên Cộng Sản Việt Nam ngày nay thòm thèm và mơ ước!.  Tôi gọi thế hệ thiếu nhi Việt Nam này là thế-hệ-của-màu-xanh-hy-vọng. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Từ sự mãn nguyện đó, tôi không có lý do gì để nghĩ về…những kỷ niệm thân quen với gia đình tôi của chị Hà Thanh. Theo thời gian, tôi quên mất. Nhưng, một ngày nào đó, sau hơn hai thập niên, tôi bắt gặp lại hình ảnh cũ của ca sĩ Hà Thanh trong những shows truyền hình, những dĩa nhựa nhạc, với sự giới thiệu của ông MC-chống-nạn-và-chống-Cộng Việt Dũng, chợt đánh thức tôi về một màu xanh lá vườn… hy vọng của thế hệ thiếu nhi ngày hôm qua, để xuất phát một bài viết nho nhỏ: “Hà Thanh, tiếng hát của màu xanh” … &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong thời gian tôi làm website giaodiem.com/ giaodiem.net, tôi ý thức tôi đang làm một công việc có thể sẽ bị thế lực Cộng sản (trong và ngoài nước) lợi dụng. Tôi không thể không biết trong số người cộng tác viết lách, hoặc là những kẻ chủ trương có người là Cộng sản, “thậm chí”  có kẻ có thể đang làm công tác tình báo, công an văn hóa cho chế độ CS Hà Nội, nhưng tôi không ngại, không lo, vì tôi đang chủ động nó… cho đến một lúc tôi thấy không thể chủ động được nữa, tôi đã làm cho nó tan vỡ… Những ai (làm chính trị, đảng phái) từng theo dõi, tìm hiểu, khai thác…giaodiem.com, giaodiem.net đều có thể nhận ra điều đó. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong số những tác giả được “giới thiệu” hoặc tự tìm cách tham gia vào giaodiem.com như ông Trần Kiêm Đoàn và vân vân… tôi đã đăng bài của họ; đi xa hơn nữa –còn tìm cách lancer họ.  Có người thuộc vai trò ‘nòng cốt’ của G.Đ. hay C.L. đã từng tỏ ý không ưa Trần Kiêm Đoàn, không muốn thấy những bài báo của TKĐ xuất hiện nhiều trên giaodiem.com, nhưng tôi không quan tâm, cứ việc đi theo hướng tôi đã định, vai trò tôi đang lãnh…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Và sau bài viết nói trên ( Hà Thanh, tiếng hát của màu xanh ), bất ngờ tôi nhận được một bài viết của TKĐ về người ca sĩ thuộc hàng “đàn chị” đó gởi tới:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(quý vị có thể đọc lại theo đường link này:  Hà Thanh, Tiếng Hát Của Dòng Sông Xanh ) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tôi nhận biết thêm một vài thông tin mới, té ra chị HT và ông Đoàn thuộc một dòng họ, bà con thân thuộc với nhau, một dòng họ “Trần Kiêm” danh giá của xứ Huế mà chỉ cần đọc mấy dòng chữ sau, ta cũng hiểu tác giả muốn nói gì rồi:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;            “/Gọi tên hoa súng: LỤC HÀ/ Gọi thôn LIỄU HẠ: quê nhà bên sông/ Gọi TRẦN KIÊM: họ sắc... không/ Gọi HÀ THANH: tiếng hát dòng Hương Giang/…&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;            “Có hai gã Trần Kiêm lang bạt xa quê gặp nhau bên trời Tây cùng nói về một nhân vật. Thi sĩ Kiêm Thêm nói về "mụ O" và tôi nói về "bà Chị" nghệ sĩ của mình là ca sĩ Hà Thanh bằng một mẫu "sơ yếu lý lịch" hợp soạn hòa âm rất chơn chất và... nên thơ như thế đó................................................... &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;             "...........Làng Liễu Hạ và họ Trần nhà tôi -- có lẽ luôn cả Huế -- hầu hết là những rặng thông già kẻ sĩ không lớn kịp với mùa Xuân nghệ sĩ đang lên…” &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Đọc xong, tôi chột dạ. Liệu có phải là bài viết của tôi nhắc nhỡ kỷ niệm về người ca sĩ hữu danh một thời ấy là “vô duyên” không? Có phải là tôi thấy sang bắt quàng làm họ rồi phô diễn với công luận về điều đó?. Nhưng, thực lòng tôi đâu có biết chị ca sĩ ấy có dòng họ “lớn, danh giá” đến dường ấy!  Nếu biết trước, hẳn là tôi phải cân nhắc nhiều hơn trước khi đặt bút. Dù vô tư đến đâu, tôi vẫn có cảm giác hơi ‘ngượng’ khi đọc xong “Hà Thanh, tiếng hát của dòng sông xanh”, nhưng vẫn trang trọng đưa lên giaodiem.com. Hẳn có nhiều độc giả, từ vài năm về trước đã đọc rồi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Xét một cách tỉ mỉ và thận trọng, thì bài viết của tôi không chỉ đơn thuần là nói về một kỷ niệm vu vơ, mà còn muốn chuyên chở nhiều ý khác nữa, có thể là một yếu tố lịch sử nữa, chẳng hạn như tôi đề xuất sự nghi ngờ về ‘cái chết của ông Bùi Tường Huân’. Bởi lý, tôi đã tình cờ gặp gỡ và nói chuyện với ông ở ngay nhà chị H.T. trước ngày tôi vượt biển. Vì cớ sao sau đó một thời gian không lâu ông lại ‘bị chết’ trong một thân xác còn khỏe mạnh và một tinh thần xem ra rất minh mẫn?. Nhưng, cảm tưởng “một thân xác khỏe mạnh” là một lý cớ chủ quan, không vững.  Nếu không phải vì trọng bệnh, thì liệu ông Bùi Tường Huân, nếu được xuất ngoại để đoàn tụ với vợ con rồi sau đó sẽ có nhiều “sự thật” không hay sẽ được bật ra về âm mưu của Cộng sản trong những ngày sôi động 30/4/1975? Qua một số dữ kiện lịch sử, một số người biết rõ ông quá thân cận với thầy Trí Quang…và về những nhân vật “đặc biệt” như William Colby, vân vân…, hay vì vai trò Bộ trưởng Quốc phòng mấy ngày của ông trong chế độ được tạo dựng đầy rủi ro Dương Văn Minh??  Đứng ở vị thế ‘khảo sát lịch sử’, tôi có quyền đề xuất một nghi vấn đó. Đến ngay cả cái chết trước đây của ông W. Colby, vợ ông cũng đã từng nêu ra vài sự kiện làm cho công luận đặt thành nan đề mà. Song, ở khía cạnh ‘tình’ thì tôi biết là không nên. (Ông Bùi Tường Huân còn có mối quan hệ dòng họ với gia đình bên chồng của chị Tường Bích -dòng họ Bùi Tường –Bắc kỳ).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Thế nên, ở phương diện chữ ‘tình’ và với tư cách của một người cầm bút, nếu vô tình vấn nạn tôi đề xuất đã làm bất bằng, không vui cho gia đình và dòng họ “Trần Kiêm” thì, tôi sẵn sàng một lời tạ lỗi đến họ, trong đó chắc chắn phải có chị ca sĩ Hà Thanh và gia đình vợ con của ông B.T.H. vậy. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                           *&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                        *     * &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Lần đầu tiên tôi gặp mặt ông Trần Kiêm Đoàn là đầu tháng 5/2008 ở Sài Gòn. Tôi được ông Nguyễn Hòa (là người thân quen của Trần Kiêm Đoàn) mời ăn ở một quán nhậu thuộc quận Thủ Thiêm. Vì phải loay hoay với chiếc xe hơi “mắc dịch” hiệu Fairy-made-in-ba-Tàu mới mua, nên tôi đến trễ. Nguyễn Hòa thì tôi gặp nhiều lần ở quán cà-phê-bông-giấy trên đường Phạm Ngọc Thảo rồi, ông Đoàn lần đầu tiên tôi gặp -với một nét mặt nghiêm nghị, đạo mạo trong dáng vẻ hơi “nhà quê”, chào hỏi tôi vài câu lấy lệ… Trên bàn một cái lẫu đã ăn còn trơ xương cá và những thứ rau thập cẩm vụn nát. Không ai trách móc tôi đến trễ, nhưng tôi vẫn nói vài lời xin lỗi, xong rất tự nhiên dù không ai mời, tôi cầm đũa ăn qua quít trong sự cảm thông của một người “được mời mà tới trễ”…Đột nhiên, ông Đoàn đòi trả tiền và xin cáo từ. Tôi cũng đứng lên, chia tay thôi. Khi đi ra khỏi cổng quán nhậu, hẳn là mọi người đều đưa mắt vào chiếc xe hơi hiệu FAIRY-của-ba-Tàu (lắp ráp tại Hà Nội) mới màu đen láng coóng của tôi.  Tôi chỉ vào chiếc xe: hẹn hai hôm sau sẽ lái chiếc xe này để chở cho hai vợ chồng ông Đoàn (có thêm đứa con trai của họ nữa) cùng đi ra Huế, ông tiết kiệm được tiền xe đò mà còn có dịp để trò chuyện nữa.. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Ông Nguyễn Hòa là con người tử tế, ông rủ rê tôi tới chỗ này chỗ nọ, có lúc tôi đèo ông trên xe máy Atila đưa ông về nhà ở quận Phú Nhuận, ông mời tôi vào nhà chơi nhưng tôi từ chối vì bận. Có lúc ông mời tôi dự một bữa ăn với cô người-mẫu-chân-dài rất hấp dẫn nói tiếng Việt từ Đức qua thăm dò thị trường trong một quán ăn sang với một giá cắt cổ, để chỉ ăn một vài miếng qua loa, rồi được thanh toán bằng một tấm bill tôi tin gần bằng lương một tháng của một người lao động trong thành phố HCM. Dĩ nhiên là cô người mẫu sexy ấy (nghe nói là con của một quan chức ngoại giao Việt Cộng) trả tiền!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Ông Hòa ăn nói sắc sảo, có phần miệng lưỡi. Một buổi sáng trong quán cà-phê-bông-giấy, ông Hòa giới thiệu tôi với ông Lưu trọng Lư (?) người Bắc (mới) –ăn nói còn hơn ông Hòa một bực về mức độ “lẻo mép”. Bên cạnh là một phụ nữ (cũng nói giọng Bắc mới) đang khoe khoang cho mấy đứa con vào học trường 'nước ngoài', một năm tốn đến mấy chục nghìn đôla (Mỹ). Ông Lư lên giọng đề cập tới lịch sử, ông nói ông có đủ tư liệu để chứng minh Võ Nguyên Giáp là con nuôi của tên trùm mật thám Pháp (Marty), và chiến thắng Điện Biên Phủ là hoàn toàn của Tàu. Tôi chỉ ngồi nghe thôi, và không hề trao đổi. Bất cứ một bàn tròn cà-phê nào mà thiếu vắng lời qua tiếng lại sẽ tạo nên một không khí nhàm chán, vô vị. Mọi người rồi cũng tự động tan hàng. Ông Hòa nghiêng vai nói nhỏ vào tai tôi, “Đ..mẹ, ở đây mình phải biết nịnh tụi Bắc kỳ!”. Tôi thản nhiên trước câu nói lạ lùng đó, nhưng không biểu lộ một cử chỉ nào cả. Tôi hiểu. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;        Vài hôm sau, tôi hẹn vợ chồng ông Đoàn ở gần nơi quán nhậu cũ, để cùng tôi đi ra Huế. Đó là hành trình dài gần hai ngày đường. Trên đoạn đường, dừng lại nhiều chỗ: tạt vào phố Quy Nhơn, ghé lại đêm Nha Trang, Đà Nẵng… để rồi chui qua đường hầm Hải Vân (một công trình tôi cho là “điểm son” của chế độ Cộng sản) rồi ra Huế. Tất nhiên, một chặng đường dài như thế thì không biết bao nhiêu là chuyện được nói ra, được trao đổi. Đây không phải là dịp để tôi phải tường thuật đến câu chuyện dài đó. Tôi chỉ xin ghi nhận vài điều: Trần Kiêm Đoàn trách cứ tôi tại sao lại để cho website giaodiem.com “chống Công Giáo; người ta là một tôn giáo lớn làm sao lại đi chống người ta được chứ?” Dĩ nhiên tôi có trả lời, nhưng không biện hộ. Bởi, như tôi đã nói, tôi ý thức được việc tôi làm, điều quan trọng là tôi có đạt được mục đích sau cùng hay không. Chống để hòa hợp, chống để rồi sống với nhau trong sự cảm thông, nếu không muốn nói một cách ủy mị là “tình yêu thương”. Như nhiều lần tôi có bày tỏ thẳng thắn với nhà biên khảo Trần Đông Phong, đại ý ‘Thương nhau lắm thì phải cắn nhau đau’; phải để cho những kẻ vì uất ức lịch sử bộc lộ ra hết đi, tuôn trào ra hết đi, để cùng ôm nhau khóc trong “sự sống” còn lại.           &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Điều ấy có thể là ước mơ, lý-tưởng-hóa. Nhưng, nếu mọi người đều mang chung một-ước-mơ, biết đâu một ngày nào đó ước mơ có thể được cụ-thể-hóa trong đời sống!?. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Chừng một, hai năm sau khi web giaodiem.com trở thành tiếng-dội-ồn-ào vì tính-cách-controversial của nó, anh Quán Như Phạm Văn Minh đã email cho tôi một vài lần cảnh giác coi chừng đừng vi phạm vào việc “chống lại tín lý” của tôn giáo khác. Điều đó đúng, bởi tín lý (creed) là niềm tin, là đời sống tinh thần của tín đồ. Dù họ có mê tín, dị đoan, si mê… gì đi nữa –những yếu tố tâm lý ấy đã bám rễ vào xương thịt, vào sự suy nghĩ, những phản xạ sống của họ. Nếu chống lại tín lý, tất mình chống lại sự sống của họ. Tuy nhiên, tôi không quan tâm tới lời “cảnh giác” của anh Quán Như, vì mục đích của tôi vẫn chưa đạt tới. Cho đến một lúc, tôi nhận ra Cộng Sản muốn khuynh loát, chủ động và lợi dụng mục đích chống Công Giáo, chống Vatican… để thủ lợi về chính trị. Đó là điều không thể chấp nhận.  Có thể vì nhận ra điều đó về sau này, ông Nguyên Vũ-Vũ Ngự Chiêu (một tác giả trong quá khứ đã cộng tác thường xuyên với web giaodiem.com) đã phẩn nộ gọi hành động chống Công giáo đó là “..Hiện tượng mọi rợ văn hóa”  (theo tôi, “chống” một tôn giáo mà không nhằm tới “mục đích chính nghĩa” thì hành vi ấy có thể coi là “mọi rợ” –mà ngôn ngữ, từ ngữ “thô thiển” chỉ là một yếu tố biểu hiện rất nhỏ của tinh thần “mọi rợ văn hóa”.)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Nói ra điều này, tôi có chủ ý “biện hộ” dùm cho ông Trần Kiêm Đoàn –nếu những ai vì cụm chữ có tính cách báng bổ nhóm “Phù Ngô phục hận” trong bài viết “Đôi điều với Liên Thành, tác giả ‘Biến Động Miền Trung’” mà suy luận TKĐ chống Công giáo là oan cho ông. Ông không hề chống Công giáo mà còn “âm thầm” chống người “chống Công giáo” nữa là khác. Như trong chuyến đi Huế, ông Đoàn kể cho tôi nghe ông từng “mắng” tác giả Trần Chung Ngọc qua trao đổi với các nhóm emails (không phải là một diễn đàn internet). Tôi đáp lời: có điều đó thật sao, vì quả tình tôi không hay biết. (Có phải lý do là vì ông Trần Chung Ngọc nhân danh là một Phật tử để “chửi Công giáo, chửi Vatican”? Nhưng, nếu ông Trần Chung Ngọc đừng “nhân danh Phật tử” mà chỉ “đánh Công giáo” để biện hộ cho chế độ CS Hà Nội thôi thì có thể chấp nhận được không?).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Có nhiều dư luận trên các diễn đàn internet nói tôi làm “tay sai CS ”, “bị lợi dụng” khi dùng mạng lưới giaodiem.com để chứa chấp những nội dung “đánh phá Công giáo”; điều đó không có gì sai. Nhưng không ai biết, đàng sau vế “bị lợi dụng” đó, mục đích sâu của tôi là gì cả!  Tôi là người từng viết chapeau, từng edit bài viết của tác giả Trần Chung Ngọc, hẳn là tôi nắm vững nội dung của những bài viết đó trước mọi người. Tôi có nhận xét: nếu có thức giả nào đó muốn phê bình, muốn phản biện lập luận của ông Ngọc cũng dễ thôi, nhưng tiếc là sao chưa thấy những bài viết “phản hồi” ra hồn nào cả ? Giá như ông Trần Kiêm Đoàn thay vì “mắng” vu vơ trong các thảo luận qua email groups nói trên, ông viết một bài phê bình thẳng thắn tác giả Trần Chung Ngọc thì hẳn là được dư luận vỗ tay tán thưởng rồi.  Bài viết “Đôi điều với Liên Thành…” là một việc làm đáng tiếc. Đáng tiếc vì nó không nên có. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                             * &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                          *     *&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;       Một bài viết “đáng tiếc” (cho 'chính tác giả') khác là của tác giả Nguyễn Hữu Liêm vừa xuất hiện trên các mạng lưới internet, “Nơi giữa đại hội Việt kiều: một nỗi bình an”. (được biết Trần Kiêm Đoàn là người thầy của Nguyễn Hữu Liêm thời trung học ở Quảng Trị). Ông Nguyễn Hữu Liêm mang một tính cách gần giống ông Đoàn ở điểm –theo tôi, ông cũng là người “âm thầm” chống những người “chống Công giáo”. Tính cách đó thể hiện trong rất nhiều bài viết của Nguyễn Hữu Liêm, cộng thêm với thái độ sống ngoài đời nữa. Theo gót một vài giáo sư, thức giả, lý thuyết gia thần học ở Mỹ -ông từng nêu ra các vấn-đề-không-có-phản-đề, thí dụ như: “Liệu con người có thể sống mà không có Chúa?” (‘Can We Live Without God’?) và vân vân… Độc giả hiểu và thông cảm, tác giả muốn xác định giá trị đạo lý về sự hiện hữu của Chúa. Lần này, cùng-một-tính-cách tương tự, Nguyễn Hữu Liêm mượn ý của Hegel nhằm bao phủ cho nội dung bài viết của mình bằng một mở đề với "...God...". Với độc giả, hẳn không phải ai cũng nắm vững về triết học Hegel, nhưng tôi tin không thiếu người rành rõi về triết học Hegel. Tôi xin “vẽ hươu” vài đường về câu trích dẫn “The State is march of God on earth.” mà ông Liêm trích dẫn; đúng ra phải viết sát nguyên văn là “The march of God in the world, that is what the state is.”  Về Hegel, khi ông dùng chữ “God” thì chúng ta khoan vội nghĩ, God là Chúa, là Đức Chúa Trời… trong tôn giáo. Đối với triết học Tây phương nói chung, God –phải hiểu như là một “logos”. Logos là nền tảng khải đạo của triết học Tây phương, the word of God. Nhưng, God ở đây là một khái niệm trừu tượng, chứ không phải God  trong Kinh Thánh. Do đó, God có thể hiểu là Chân-Thiện-Mỹ, là ý-lực-trọng-điểm (the substantial will –một khái niệm của Hegel) mà Nhà Nước/Chế Độ cũng là một ý-lực-trọng-điểm. Nên Nhà Nước/Chế độ hiện hữu là thực tại của Chân-Thiện-Mỹ (God). Nhà nước/Chế độ là một phương tiện đạo lý hiện thực để nhằm “trấn áp”, chế ngự những điều xấu –con người trong xã hội đầy rẫy những kẻ xấu, tội phạm. Hiểu như vậy, ta có thể cho rằng triết học của Hegel là một triết học phản-động với lý thuyết cách mạng của triết học Mác-Lê, bởi –một chế độ mang tính giai cấp bóc lột đại đa số quần chúng, giai cấp bị bóc lột đó phải làm cách mạng (lại) để lật đổ chúng. Tinh thần triết học của Hegel trong “The Ethical Life: The State/ Nhà nước…” còn bao gồm ba thành tố: Luật Hiến Pháp (the Constitutional Law)/ Luật Quốc tế (the International Law) và Lịch sử Thế giới/ (World History). Nói vắn tắt, triết học Hegel là một triết học xác định/xác nhận (affirmative) mặc nhiên sự hiện hữu cần thiết và tất yếu của một chế độ-nhà nước. Khi ông Nguyễn Hữu Liêm muốn mang một vỏ bọc (một hình thức bảo hiểm bằng cao su ! –nhằm trấn an độc giả trước khi đi vào nội dung bài viết?) “the march of God…” có thể đánh lừa được một số người nào đó, nhưng không thể che mắt được hết mọi người nhằm cho một mục đích riêng tư nào đó (chẳng hạn như đi xin việc lớn với chế độ ?). Tôi không muốn làm công việc thiên-hạ-thường-tình “chụp mũ” ai đó là Cộng Sản, chưa kể tôi còn tôn trọng những người yêu thích lý thuyết Mác-xít, ngưỡng mộ (“the bookist”) về chủ nghĩa Cộng Sản. Vấn đề đó khác biệt với sự đã nhận biết, chứng kiến... bằng mắt, bằng lý trí, bằng tâm hồn về một chế độ khốn kiếp như chế độ Việt Nam hiện nay mà còn đi làm công việc bênh vực - và quảng bá sự bênh vực đó trước công luận là một thái độ không thể chấp nhận được. Theo một cuốn Tự điển tiếng Việt-Nôm, trong nghĩa của chữ “Hèn” (do chữ “Hàn” ) còn có nghĩa là “lòng dạ trống không, yên tĩnh...”, ngoài các nghĩa dốt nát, nhỏ nhen, khiếp hãi, run sợ... Một tinh thần “Bình An” (yên tĩnh) không thể là tinh thần của một người trí thức.  Giả như có người đặt vấn đề với ông Liêm bằng tinh thần triết học của Hegel: Các chế độ miền Nam ngày trước –cũng là một hiện hữu của một nhà nước pháp quyền, là ý lực thiết đặt của Thượng đế trên trái đất vì cớ sao chế độ Cộng Sản Bắc Việt lại dám vi phạm “thẩm quyền” của Thượng đế để quỷ quyệt tìm mọi cách đòi “giải phóng” nó?  Từ đó, có thể kết luận như thế này: Nhà nước Việt Nam hiện hữu là kết quả của một ý-lực-ăn-cướp thẩm quyền của Thượng đế trên trái đất , được không?.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Mục đích của bài viết này, chỉ nhằm kéo dài... nỗi niềm ước mơ cho thế-hệ-màu-xanh hy vọng mênh mang trên đất nước ngày càng thêm xanh thẳm. Thế thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Sunday, November 29, 2009&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-8133390933973450945?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/8133390933973450945/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=8133390933973450945' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/8133390933973450945'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/8133390933973450945'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/e-keo-dai-uoc-mo-cho-he-mau-xanh-hy.html' title='…&lt;strong&gt;Để kéo dài ước mơ cho thế hệ màu-xanh-hy-vọng  &lt;/strong&gt;'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-3980955156227086083</id><published>2010-01-23T19:57:00.000-08:00</published><updated>2010-01-23T20:00:57.259-08:00</updated><title type='text'></title><content type='html'>Giải quyết rốt ráo những áp bức tôn giáo như biến cố Bát Nhã của Tăng Ni Làng Mai ở Lâm Đồng, là phải giải quyết triệt để toàn bộ vấn đề xã hội. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Văn Hóa (Thường Đức)&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;      Nhìn từ khía cạnh hiện-tượng-luận về xã hội chính trị ở Việt Nam hiện nay, người ta khó có thể định danh nó là một chế độ chính trị loại gì, dù trên danh nghĩa vẫn là một nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa. Cho nên, muốn “xía” vào nội bộ của nước CHXHCN VN không thể không đề cập tới vài điều về lý thuyết Cộng sản (Mác-Lê-Stalin-Mao). Trong bốn ông “tổ” Cộng sản đó, chỉ còn một nước Cộng sản vĩ đại duy nhất do Mao thành lập nên –cũng là người thầy muôn thuở của Hồ Chí Minh, mà hậu duệ của ông đang răm rắp đi theo có bước tiến chính trị đi tới, nhưng cũng có những bước thụ lùi rất xa. Đó là kỹ thuật đối đầu với “mâu thuẫn xã hội” do chính họ tạo ra.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Như xuyên suốt một sợi chỉ, triết học Mác cho rằng luật thống nhất của đối lập là luật nền tảng của vũ trụ. Trong mọi mâu thuẫn luôn có hai mặt đối lập: thống nhất và đấu tranh, mà mâu thuẫn “đấu tranh” thúc đẩy sự việc chuyển động và thay đổi. Để làm rõ về khái niệm mâu thuẫn "có" đấu tranh, Mao diễn giải như sau: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      “Mâu thuẫn hiện hữu khắp mọi nơi, nhưng nó có sự khác biệt tùy theo nguồn gốc và sự việc. Trong bất cứ một hiện tượng và sự việc nào, đối lập thống nhất có điều kiện, tạm thời và ngắn hạn, nên chỉ là đối lập tương đối; trong khi đấu tranh đối lập có tính tuyệt đối. Lê-nin đã giải thích rõ ràng về luật này. Trong quốc gia chúng ta (tức là Tàu), gia tăng một số người hiểu về nó. Tuy vậy, trong số đó, có người chấp nhận luật này là một chuyện, nhưng việc áp dụng để thi triển vấn đề là chuyện khác. Rất nhiều người không dám công khai thú nhận có nhiều mâu thuẫn hiện diện giữa xã hội trong nước ta, mặc dù những mâu thuẫn cực kỳ này nó đẩy xã hội chúng ta đi tới. Nhiều người cũng không dám thú nhận rằng mâu thuẫn vẫn còn tiếp diễn trong xã hội xã-hội-chủ-nghĩa, và kết quả thế là người ta đã què quặt và thụ động để đối đầu với những mâu thuẫn xã hội; người ta không hiểu rằng xã hội xã-hội-chủ-nghĩa sẽ gia tăng sự nhất thống và củng cố xuyên qua tiến trình không ngừng nghỉ để đối phó và giải quyết những mâu thuẫn. Vì lẽ đó, chúng ta cần phải giải thích cho nhân dân, và các đồng chí của chúng ta trước hết, nhằm giúp họ hiểu những mâu thuẫn trong xã hội xã-hội-chủ-nghĩa, học tập và sử dụng phương pháp đúng vào việc đối phó với những mâu thuẫn này.”  (Mao Tse Tung, Four essays on philosophy MFE.91, Peking 1966. On the correct handling of contradictions among the people, tháng 2, 1957.) [1]&lt;br /&gt;      &lt;br /&gt;    Thế nhưng, trong chiến tranh giữa Việt Cộng và Trung Cộng năm 1979, mặc dù Việt Cộng (Việt Cộng = chế độ Việt Nam dưới danh nghĩa còn tôn thờ chủ nghĩa Cộng Sản) đã nói đích danh “Trung quốc là kẻ thù nguy hiểm” –thì đó chỉ là nội thù, một mối thù huyết thống, cho nên CHXHCN Việt Nam đã không dám khuyếch đại mối thù đó thành một nhánh tuyên truyền trong người dân Việt, và cũng bởi nó không nằm trong phạm trù cặp mâu thuẫn đối lập của lý thuyết Cộng sản, nên với thời gian, “kẻ thù” đã được hai chế độ vô hiệu hóa. Và từ đó, Vatican trở thành một “con ngáo ộp” được hình tượng và lý thuyết hóa thành một “kẻ thù” hiện thực trong mâu thuẫn đối lập tuyệt đối, mà “tam đại Việt gian Ngô đình, Cần lao Công giáo, Việt gian tay sai…” của quá khứ nửa thế kỷ chỉ là biểu kiến nối kết với thể nhất thống “Kẻ thù” đối lập tuyệt đối với chế độ Việt Cộng. Tất nhiên, những ai không quan niệm, không đồng lòng, không cùng lên án “kẻ thù” đó, có nghĩa là đang đứng trong vế “mâu thuẫn đối lập” với chế độ -và, hiểu theo như “phương pháp đúng” của Mao Trạch Đông –những mâu thuẫn tương đối này phải bị triệt tiêu trước khi họ (CS) có đủ năng lực để tiêu diệt “đối lập tuyệt đối” nhằm đi tới con đường thiết lập một xã hội xã-hội-chủ-nghĩa không còn mâu thuẫn đối lập nào tồn tại (viễn tượng xảy ra vào các năm 2090, 2100...chẳng hạn)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất (đứng đầu hiện nay là Thầy Quảng Độ) và Giáo phái Làng Mai (của Sư Nhất Hạnh) là hai thí dụ cụ thể nhất cho những “mâu thuẫn tương đối” mà chế độ Cộng sản VN muốn đập tan trước khi có sự chuyển hóa giữa “kẻ thù thực” và “kẻ thù giả định” (tạm gọi là fake enenmy).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Nhìn vào trọng tâm lý thuyết và hành động của chế độ Cộng sản VN, chúng ta sẽ hiểu lý do tại sao có những cánh tay nối dài của chế độ đã ví von ủng hộ chuyến về nước của Thiền sư Nhất Hạnh vào đầu năm 2005.  Hãy cầm lên cuốn “Võ Văn Ái – Con nội trùng của Phật Giáo Việt Nam”, đọc những lời “giáo đầu” được ‘giao phó’ cho một tín đồ Thiên Chúa Giáo viết như sau,  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      “&lt;em&gt;Phật giáo là một tôn giáo lớn tại Việt Nam. “Lớn” không phải chỉ vì Phật giáo đã được du nhập lâu đời vào nước ta, hoặc vì số lượng tín đồ đông đảo, mà còn vì Phật giáo đóng góp rất tích cực và sâu rộng vào học thuật, văn hóa, đạo đức và đời sống tâm linh của dân tộc Việt Nam. Cho nên, ta có thể nói rằng mỗi sự cố xảy ra có liên quan đến Phật giáo, dù lớn hay nhỏ, thì đều có tác dụng đến Việt Nam. Và đều cần được theo dỏi quan tâm một cách cẩn trọng.&lt;br /&gt;      Đông Dương Thời Báo và trang nhà điện tử  http://dongduongthoibao.com là hai diễn đàn thông tin và bình luận của người Việt tại hải ngoại, chuyên thẳng thắn phân tích (và trình bày quan điểm của mình cũng như của thân hữu) về những vấn đề của cộng đồng người Việt và của đất nước, đặc biệt những vấn đề Lịch sử tôn giáo và Hoạt động tôn giáo là những lãnh vực nhiều người thường tránh né, ít muốn đề cập đến. Tuy Ban Chủ trương hầu hết là tín hữu Công giáo tiến bộ cởi mở nhưng trên hai diễn đàn nầy, chúng tôi cũng đã nhiều lần cho đăng tải các nghiên cứu về các tôn giáo khác nhau, nhất là về Phật giáo mà chúng tôi đặc biệt quan tâm như đã nói ở trên.&lt;br /&gt;      Trong bốn tháng gần đây, từ cuối năm 2004 đến đầu năm 2005, chuyến về Việt Nam của nhà sư Thích Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai đã gây nhiều thảo luận sôi nổi trên các phương tiện truyền thông của cộng đồng Việt Nam hải ngoại, nhất là trên các trang nhà thuộc mạng lưới internet toàn cầu. Trong số những thảo luận đó, chúng tôi thấy đặc biệt nhất là những thông tin và phê phán của Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế (do ông Võ Văn Ái là Giám đốc) thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại Hải ngoại.  Sau đó là một loạt hồi ứng của các giáo hữu Phật tử từ Việt Nam đến Paris, từ Mỹ châu đến Úc châu, về những thông tin, những phê phán mà Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế đã phổ biến qua các Thông cáo báo chí.&lt;br /&gt;       Nhận thấy rằng sự cố nầy đã vượt ra khỏi khuôn khổ của Giáo hội Phật Giáo và có thể trở thành một tiền lệ mẩu cho những sinh hoạt truyền thống khác của cộng đồng, Đông Dương Thời Báo quyết định thu thập các tài liệu nầy và trình bày lại dưới dạng một hồ sơ tổng hợp để rộng đường dư luận, và để lưu trữ cho các nhà nghiên cứu sau nầy.&lt;br /&gt;…………………………………………Giu-se Phạm Hữu Tạo, Đông Dương Thời Báo.”&lt;/em&gt;  [2]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Xét về tính cách viết lách, trên đây là những dòng chữ tương đối “khéo léo” che đậy hành vi của mình để khỏi mang tiếng là một tín đồ Thiên Chúa Giáo nhưng lại “xía vô” chuyện tôn giáo khác; tuy vậy, cái khéo ấy không đủ che đậy thái độ trịch thượng của một kẻ đứng lên trên các tôn giáo để “xét định” thái độ và hành vi nào giữa “hai phía mâu thuẫn” trong một tôn giáo là kẻ đáng bênh vực, đáng tán thưởng. Đó là thái độ “mượn hơi” của quyền lực chính trị (chủ tể), ai cũng nhìn ra. Từ đó, người ta cũng nhận ra điều khác, là những người dưới danh nghĩa Phật tử chấp nhận cho một tín đồ Thiên Chúa giáo viết “giáo đầu”, ủng hộ Thầy Nhất Hạnh (lưu ý: ủng hộ tạm thời nhưng còn chờ xem, còn thẩm định những diễn tiến…trong tương lai nữa), chỉ trích Võ Văn Ái… chỉ là một hình thức “tay sai trung gian”, và như thế “trọng lượng” còn yếu kém hơn “tay sai trực tiếp” (tín đồ TCG) một nấc thang!&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Từ sự lên tiếng ủng hộ rất “kẻ cả” đến thái độ rút lui trong sự im lặng hiện nay của nhóm liên-tôn Lương-Giáo nầy (Đông Dương Thời báo và Từ Thiện Giao Điểm v.v…) trước những sự biến đàn áp Tăng Ni Làng Mai-Bát Nhã ở Lâm Đồng trong thời gian qua (và, tệ hơn nữa còn phụ họa với chế độ để mỉa mai "Linh Mục Sư Nhất Hạnh") , càng chứng minh hùng hồn thái độ và những dòng chữ trịch thượng của một “tín đồ Công giáo”, càng dễ lật tẩy cơ chế chính trị Việt Nam hiện nay là một hậu thân của Cộng sản Mao Trạch Đông, từ sau thời gian nắm chính quyền cho tới chiến dịch đẫm máu “Cách mạng Văn hóa” trên đất Trung Hoa.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Hậu quả từ những “ngôn ngữ thương yêu, miệng mỉm cười, tâm tỉnh lặng…”, Sư Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai…đã bị “bán đứng” cho “chế độ Mao-hóa” không thương tiếc. Nói cách khác, một sự “bán đứng” rẻ mạt và vô liêm sỉ, để ngày hôm nay họ -những kẻ tu hành, đã lãnh những đòn thù từ chế độ như hình ảnh sau:&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      “Tin tức công an giả danh Phật tử đánh đấm người tu, bóp béo phần kín của tu sĩ được thông tấn quốc tế loan truyền rộng rãi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Trên thế gian này không bao giờ có thứ "Phật tử" chửi thầy, nhục mạ thầy, bóp phần kín của qúy thầy, nhổ nước miếng trên đầu thầy khi đang tụng kinh, đập phá chùa chiền, ném liệng kinh sách.”  (Trích: Tấm gương phản chiếu | của Huyền Lam, link to web Phù Sa)  [3]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Hẳn Huyền Lam của “tấm gương phản chiếu” là một nam/nữ Phật tử phải “nuốt hờn” lắm mới có thể viết ra những hàng chữ đầy nhũng nhiểu thế tục của những hành vi Cộng sản ngụy trang du côn-ăn cướp đó –mà, nếu những anh-hùng-văn-hóa-Hồ-Chí-Minh có đủ tiềm năng bệnh hoạn “bóp béo phần kín của tu sĩ” thì đâu cần phân biệt “phần kín” ấy là “Thằng Ku” hay “Cái Hĩm.”  Liệu những “thằng Ku” và “cái Hĩm” tu sĩ nầy sẽ gây nhiều tăng kích dục thú vị cho những công an văn hóa hơn là những “cái L…” nằm giữa những cặp chân dài –một biểu tượng văn minh thẩm mỹ và phát triển kinh tế vật chất tràn đầy xã hội của Đảng Kụ Hồ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Những sự kiện cười ra nước mắt ấy, không thể là “vấn đề nội bộ của Phật giáo”, cũng như hơn bốn năm về trước, chuyến trở về nước của Sư Nhất Hạnh không thể là “một tiền lệ mẩu cho những sinh hoạt truyền thông khác của cộng đồng.”! Chỉ có thủ thuật của Cộng sản Mao Trạch Đông mới có thể đối phó với con người, với những đồng chủng một cách thô bạo…(đến dường ấy) khi không có đủ những điều kiện-hoàn cảnh cụ thể nào để giết chết những “thứ mâu thuẫn tương đối” nầy thôi.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Không phải chỉ có Phật tử Huyền Lam mới "may mắn" chứng kiến cảnh trấn áp những kẻ tu hành ngàn năm một thuở đó, đến cả ông Brad Adams, Giám Đốc Á Châu của Nhóm Giám Sát Nhân Quyền đã hết sức sững sốt khi thấy Việt Nam đã dám dùng đến những nhóm người Công an bạo động ăn mặc theo lối thường dân để hăm dọa và phá rối cuộc điều tra của Phái Đoàn Âu Châu, không cho Phái Đoàn này gặp được những vị tu sĩ kia.  (dẫn theo bài viết trên, Huyền Lam...)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Nhưng điều đáng nói hơn nữa là ông Nguyễn Trung Nguyên –luật gia, là một người được đào tạo về chuyên môn luật pháp từ nền giáo dục Xã hội Chủ nghĩa VN cũng phải lên tiếng. Học trình Luật của nước CHXHCNVN trong 4 năm, theo chúng tôi tìm hiểu (về curriculum) có gần đến 1/5 thời gian là học về triết học Mác-Lê, phần còn lại là trang bị những kiến thức luật hiến pháp, luật hình sự tố tụng v.v… nói chung là một nội dung luật pháp của chế độ CS, thế mà ông đã nhìn nhận rằng: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      “Trong khi đó, những cáo buộc cho rằng nhà nước, đặc biệt là ngành an ninh, ngành công an tôn giáo và ban tôn giáo chính phủ có liên quan trực tiếp đến những mâu thuẫn trong vụ việc này càng ngày càng mạnh và càng thuyết phục.”   &lt;br /&gt; &lt;br /&gt;      Và, một luật sư đồng nghiệp khác của ông Nguyên  --Luật sư Phạm Như Hưng  trong tâm thư gửi Ngài Pháp Chủ Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam cũng nhấn mạnh rằng những tăng ni này hoàn toàn không vi phạm bất cứ một điều khoản nào trong hệ thống luật pháp nước ta. Nhưng quan trọng hơn cả đó là, vấn đề này đã không những gây ra nhiều quan tâm và bức xúc ở dư luận trong nước mà còn tạo nên nhiều tai tiếng và chỉ trích từ dư luận quốc tế.” &lt;br /&gt;Với tinh thần đồng lòng đó, họ thề nguyện sẽ: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      “Những đồng nghiệp của tôi trong lĩnh vực luật pháp quốc tế cho biết họ không những sẵn sàng đứng ra bào chữa cho các tăng ni này mà các Luật sư đoàn quốc tế cũng sẵn sàng nhân danh thân hữu của những tăng ni này để khởi kiện Chính phủ Việt Nam lên Tòa Án Quốc Tế The Hague về những tội ác trên.”    [bấm lên đoạn văn để đọc bài trên web Phù Sa]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Đó là một hiện tượng đặc biệt của những luật sư tốt nghiệp từ trong nước hiện nay. Chính lương tâm của con người, tư duy "Luật đúng nghĩa" vượt lên trên những hạn hẹp và thiển cận của nền giáo dục ngành Luật và nội dung của Luật pháp XHCN, họ đã hành động đúng chức năng của những kẻ bảo vệ cho “cán cân Công Lý” thông thường trên thế giới.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Bình tỉnh để nhìn vào những thảm trạng của “dân đen”, sự áp bức các tôn giáo… ta đang thấy một dòng lũ thời đại, một cơn đại "triều cường" bất thường… đang trào dâng, hoàn toàn mâu thuẫn với triết lý cách mạng của Mao Trạch Đông, đó là yếu tố quần chúng (hay nói theo Cộng sản là: Nhân Dân). &lt;br /&gt;Mao viết về “nhân dân”:   &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      “Trong tất cả công tác thực tiễn của Đảng ta, mọi lãnh đạo đúng đắn cần thiết là, ‘từ nhân dân và, đến với nhân dân’. Có nghĩa là: Lấy mọi ý kiến của nhân dân (cả vụn vặt lẫn thiếu hệ thống), tập trung nó lại (xuyên qua điều nghiên biến nó thành ý tưởng có hệ thống), rồi trở lại với nhân dân –gieo mầm và giải thích những ý tưởng đó cho tới khi nào, nhân dân sẽ ôm lấy tư tưởng đó như là của chính họ, nhanh chóng kềm giữ nó để chuyển biến thành hành động, rồi thử nghiệm và sửa sai tư tưởng đó lần nữa trong khi hành động…” (Mao selected Works 3.119, The Chinese revolution and the Chinese Communist Party. 12/1939 )  [4]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Thế thì, từ quan điểm “từ (from) nhân dân và, đến với (to) nhân dân” để đưa tới sự giáo huấn và điều khiển nhân dân đó, cuối cùng để làm gì?  Mao lý luận tiếp, &lt;br /&gt;      “…Để thay đổi một thế giới khách quan, nó bao gồm các phần tử đối nghịch của sự đổi thay, bất cứ ai –để được đổi thay, phải bước qua thời kỳ bị áp bức trước khi chúng bước vào thời kỳ thay đổi tự nguyện và có ý thức. Kỷ nguyên của thế giới cộng sản gần kề khi nhân loại ý thức tự nguyện đổi thay cho chính nó và cho thế giới.”&lt;br /&gt;(Mao selected Works 1.308, The Chinese revolution and the Chinese Communist Party. 12/1939) [5]&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;      Nhưng hôm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn có khả năng thực hiện ý chí của Mao trạch Đông được nữa vì, toàn thể nhân dân Việt Nam đã ý thức đi trước Đảng, đã biết cái biết trước Đảng, hiểu trước Đảng…cho nên Đảng chỉ còn là một bộ phận ù lỳ rất nhỏ trong xã hội, dù cho bộ phận nhỏ ấy là một tập hợp của những kẻ buôn dân bán nước, giàu sụ-phè phỡn-kiêu sa-lộng lẫy. Một “phường khố lụa thắt lưng” tân thời.  [6] Đành rằng, hơn tám mươi triệu dân đang chịu làm “kiếp hồng nhan” bạc phận, nhưng chỉ cần một ý thức tự nguyện cuối cùng là hãy cùng nhau đoàn kết đứng dậy –giật lấy cái “dãi lụa thắt lưng” ấy để treo cổ Đảng Cộng sản Việt Nam trước tiếng vỗ tay reo hò vang trời của toàn thế giới. &lt;br /&gt;Nguyễ Văn Hóa (Thường Đức)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Monday, December 14, 2009&lt;br /&gt;     Vài chú thích :&lt;br /&gt;________________________________________&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[1] “Contradiction exists everywhere, but they differ in accordance with the different nature of different things. In any given phenomenon or thing, the unity of opposites is conditional, temporary and transitory, and hence relative, whereas the struggle of opposites is absolute. Lenin gave a very clear exposition of this law. In our country, a growing number of people have come to understand it. For many people, however, acceptance of this law is one thing, and its application in examining and dealing with problems is quite another. Many dare not openly admit that contradictions still exist among the people of our country, although it is these very contradictions that are pushing our society forward. Many do not dare amit that contradictions continue to exist in a socialist society, with the result that they are handicapped and passive when confronted with social contradictions; they do not understand that socialist society will grow more united and consolidated through the ceaseless process of the correct handling and resolving of contradictions. For this reason, we need to explain things to our people, and to our cadres in the first place, in order to help them understand the contradictions in a socialist society and learn to use correct methods for handling these contradictions.  (Mao Four Essays 91.) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[2] Võ Văn Ái – Con nội trùng của Phật Giáo Việt Nam, 10 tác giả viết, Đông Dương TB. xuất bản, Phạm Hữu Tạo viết lời dẫn, Texas-USA 2005. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[3] Chúng tôi thiết tưởng đây là hành vi bệnh hoạn, mang tính bạo dâm (sexual masochism), mà nạn nhân không chỉ là tu sĩ nam; tuy nhiên, vì là vấn đề tế nhị nên tác giả đã không muốn nói thêm chi tiết. Đây là một trường hợp “sexual harrasment” rất nghiêm trọng, vì nạn nhân là tu sĩ. Chúng tôi đề nghị Cộng đồng Phật Giáo hải ngoại nên dẹp bỏ những sự khác biệt nhỏ, để cùng hổ trợ Tăng thân Làng Mai nêu vấn đề này ra trước diễn đàn quốc tế. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[4] In all the practical work of our Party, all correct leadership is necessarily ‘from the masses, to the masses’. This means: Take the ideas of the masses (scattered and unsystematic ideas) and concentrate them (through study turn them into concentrated and systemic ideas), then go back to the masses and propagate and explain these ideas, until the masses embrace them as their own, hold fast to them and translate them into action, and test the correctness of these ideas in such action… (Mao Selected Works, 3.119) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[5] …And the objective world which is to be changed also includes all the opponents of change, who, in order to be changed, must go through a stage of compulsion before they can enter the stage of voluntary , consciously change. The epoch of world communism will be reached when all mankind voluntarily and consciously changes itself and the world. (Mao selected Works, 1.308) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;[6] “Phường khố lụa”: Theo tục truyền ở nước ta, vào cuối thế kỷ 18, đầu 19 đàn ông còn mặc áo có dây thắt lưng. Người giàu dùng dây thắt lưng bằng lụa, người nghèo dùng dây thắt lưng bằng vãi. “Phường khố lụa” để chỉ một bọn người giàu sang, ăn chơi, đàng điếm… Hôm nay, Đảng CSVN có đám cán bộ cao cấp từ trung ương cho đến đại biểu quốc hội, mỗi lần xuất hiện trước đám đông, nhà báo…(để chụp hình, ti toe trả lời phỏng vấn), mỗi người đeo trên ve áo veste một buckle có hình cờ đỏ sao vàng, cũng rất giống “phường khố lụa” vài thế kỷ trước. Tú Xương có hai câu thơ để miêu tả về “phường khố lụa”: Nào có ra gì phường khố lụa; Thôi thì cũng tủi kiếp hồng nhan.&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-3980955156227086083?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/3980955156227086083/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=3980955156227086083' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/3980955156227086083'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/3980955156227086083'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/giai-quyet-rot-rao-nhung-ap-buc-ton.html' title=''/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-2846957261717654195</id><published>2010-01-23T19:51:00.000-08:00</published><updated>2010-01-23T19:56:15.535-08:00</updated><category scheme='http://www.blogger.com/atom/ns#' term='Về cảm nghĩ về bài phỏng vấn Võ Văn Ái của web gio-o'/><title type='text'></title><content type='html'>Ngẫm nghĩ về nhóm chữ “Bọn khuyển mã Giao Điểm” qua phỏng vấn nhà thơ, nhà tranh đấu nhân quyền Thi Vũ-Võ Văn Ái (do Lê thị Huệ, chủ biên gio-o.com thực hiện) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;nguyễn văn hóa&lt;br /&gt;&lt;br /&gt; &lt;br /&gt;     Tuần rồi (cuối tháng 11/2009), web Hội Tụ có link bài phỏng vấn của nhà văn Lê Thị Huệ (chủ biên mạng gio-o) phỏng vấn một nhân vật…với tựa đề rất “bắt” mắt với độc giả: Phỏng vấn…Lãnh tụ trí thức đấu tranh Nhân Quyền số Một ở hải ngoại: nhà thơ Thi Vũ Võ Văn Ái.  (phần 2)&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Với vai trò “một ngựa”, một thuyền, một “người lái” như tôi trên mạng lưới điện tử, hẳn tôi có quyền đăng bất cứ bài nào tôi muốn (trên các diễn đàn công cộng, hoặc nhận từ các emails gửi đến), tôi viết bất cứ thứ gì tôi thích. Nhưng đấy không phải là một việc làm “vô tư”, ai cũng thấy. Cho nên, khi link (2) phần đầu của bài phỏng vấn ấy, hẳn là tôi phải đọc trước!  Đây không phải là bài nhận xét về nội dung vấn-đáp của bài phỏng vấn, bởi có muốn nhận xét cũng không nên, vì toàn bài chưa được phổ biến trọn vẹn. Tôi đang làm công việc gọi là “trích ngang” vài điểm nhỏ trong bài phỏng vấn, chỉ vì nó có liên quan đến cái “danh” : Giao Điểm.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Đứng ở quan điểm “cái tôi tự nhủ”, tôi có thể yên tâm để “bình an như vại” là không quan tâm, không đếm xỉa đến một vài “điểm nho nhỏ” trong cái lớn, cái “tổng quan” của bài phỏng vấn; nhưng với những thắc mắc về lãnh vực tri thức (nói xa hơn là trí thức, cũng được thôi.) thì tôi vướng mắt với nhóm chữ “bọn khuyển mã Giao Điểm” trong một đoạn trả lời của bài phỏng vấn như sau: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     “….Đấy, sức mạnh thực hữu và uy tín của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phát ra từ miệng các ông trùm Cộng sản. Có đâu như gần đây một vài Tăng sĩ cơ hội, Phật tử cơ hội ở Hoa Kỳ, Canada, Châu Âu, Châu Úc bêu riếu Giáo hội chỉ còn có hai người là đức cố Tăng thống Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ ! &lt;br /&gt;      Không có ai, trong nghĩa chẳng ra gì, mà sao cả đại Bộ Công An ở Hà Nội cho đến bọn khuyển mã Giao Điểm, rồi ba nhóm Phật giáo cơ hội Về Nguồn, Tăng Ni Việt Nam Hải ngoại, Thân hữu Già Lam không ngớt chửi bới, bôi nhọ, vu hãm Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, lại còn tiếm danh Giáo hội để làm tiền xây chùa và mong mỏi không bị Cộng đồng Người Việt Tị nạn hỏi thăm về việc thỏa hiệp hay đi đêm với Hà Nội của bọn này ?...” ( chữ đậm là nhấn mạnh của nvh.) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Liệu tôi có nên nhắc lại về vai trò “chủ động” mạng lưới giaodiem.com kể từ tháng 4/2001 cho đến gần giữa năm 2006?, rồi sau đó tôi đã cho nó “tan vỡ” bằng các loạt bài đã có rất nhiều người đọc. Sau đó, “họ” đòi kiện tôi ta tòa xuất phát từ nhiều lý do, mà lý do tiên khởi là vì tôi đã “cứng cựa” không chuyển giao mạng lưới cho họ, vì: Từ cuối năm 2005 cho đến giữa năm 2006, tôi  đã viết vài bài báo “phạm húy, phạm thượng” đến nhân vật Hồ Chí Minh, cộng với những bài links về “tố cáo” Mặt trận Hoàng Cơ Minh, một số bài kỵ húy với Giáo Hội PG nhà nước - Đảng Cộng Sản VN, thí dụ như: những trang web tưởng niệm cố Thượng Tọa Thích Thiện Minh (trong đó nặng nhất là bài báo đăng lại từ tạp chí Phật Giáo Việt Nam tố cáo cái chết của thầy Thiện Minh là do Võ Đình Cường) ; bài báo “Từ Ánh đuốc Quảng Đức…” của tôi đối nghịch với tinh thần của buổi hội thảo Phật Giáo VN trong thế kỷ 21 đang tổ chức tại TP/HCM và .v.v… Tất nhiên, trước đó còn đăng bài viết luận về “chính nghĩa, chính danh, hợp pháp” của tổ chức Giáo Hội PGVN Thống Nhất của Thích Nguyên Tường mà “bọn Giao Điểm” tin rằng “lạm bút danh” đó là của ông Võ Văn Ái.  Nói nhiều hơn nữa, tôi nghĩ không cần thiết, vì tôi tin chính ngay bản thân ông Võ Văn Ái cũng biết rõ ngọn ngành của “biến cố” đó ra sao rồi. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Khi “biến cố Nguyên Thiều” trong nước xảy ra, chính giaodiem.com “gánh vác” trên vai một trọng trách đã làm “lắng đọng” khả năng đưa tới sự xung đột làm tan rã “thế” còn lại của Giáo Hội PGTN qua vai trò lãnh đạo của các danh tăng như các Ngài Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sỹ v.v… - trong thế chủ động đạo diễn của thế lực Công an tôn giáo. Có người (chức sắc) trong tổ chức Giao Điểm như ông Phan Mạnh Lương (vào lúc đó là chủ tịch) đã chuyển lời (có lẽ) là từ một vài chức sắc trọng lượng hơn (thí dụ: (Bùi) Hồng Quang hay Hoàng Nguyên Nhuận..?) [*] cho rằng “tác giả Thích Nguyên Tường” chính là Võ Văn Ái. Nghe vậy, tôi lại bực mình thêm, vì tôi không hề quen biết ông Ái, và đăng một bài viết vì giá trị nội dung của một bài viết, chứ không phải bài viết ấy “phù hợp” hay “có vấn đề” với quan điểm của nhà nước CHXHCN Việt Nam về tôn giáo !  Ai không đồng ý cứ viết bài phản hồi. Viết không được là vì mình thiếu lương thiện và không đủ chính nghĩa trong lập luận phản biện.&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Nhưng, đăng bài viết của “tác giả Thích Nguyên Tường” không phải là đồng nghĩa với việc ủng hộ, bênh vực cho lập trường, hành động của ông Võ Văn Ái. Chẳng phải là, tôi cũng có viết một vài bài (trong quá khứ) chỉ trích việc ông Ái nhận tiền của NED – liên hệ đến Phong trào Tổng Lao Động Mỹ; và không ai –một công dân trí thức lại đứng trước diễn đàn Liên-Hiệp-Quốc cúi đầu để tố cáo, nói xấu về…"quốc gia" mình!   -Tinh thần của sự “chỉ trích” ấy không thể nào trực tiếp từ sự “chỉ đạo” của Cộng Sản. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Bây giờ, tôi xin nêu thắc mắc về nhóm chữ “bọn khuyển mã Giao Điểm” ? &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Có muốn “yêu” tiếng Việt từ lúc mới ra đời hay không, muốn hiểu tiếng Việt cho rõ ràng, tử tế…thì đàng nào cũng phải lôi tự điển Hán-Việt ra thôi. Trong vài cuốn tự điển Hán-Việt, Việt-Nôm-na, định nghĩa chung: “Khuyển mã” là “Chó và ngựa” : Chỉ lòng trung thành của kẻ dưới đối với người trên, với chủ. (Chó và ngựa là hai con vật nuôi trong nhà rất trung thành, rất mến chủ.)  Chưa đủ, mượn chữ “chó” nói về người còn có nghĩa: Kẻ theo Nho học mà lòng dạ xấu xa, thí dụ: “Khuyển nho”; nhưng nếu chỉ một loại tay sai mang tính-độc-ác thì gọi là “Khuyển ưng”: Chó săn và chim ó (chim ó là loại chim săn bắt mồi.) Như trong Truyện Kiều:  &lt;br /&gt;           &lt;br /&gt;            “Sửa sang buồm gió lèo mây, &lt;br /&gt;            Khuyển ưng lại lựa một bầy ‘côn quang’” &lt;br /&gt;(“Côn quang”, có nghĩa là “côn đồ”: Bọn xấu xa hung dữ.) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Xét ra thì ông Võ Văn Ái còn “nhẹ lời”, không thì ông sẽ dùng nhóm chữ này: “Bọn Khuyển ưng Giao Điểm”, bởi “ngựa” là con vật tương đối hiền lành, ngoan ngoãn, còn “chó” thì có giống loại chó dữ - chó hiền, khác nhau. Vậy, diễn nôm “Bọn Khuyển mã Giao Điểm” có nghĩa Giao Điểm là “bọn chó ngựa” –là một bọn tay sai, trung thành với chủ. Nhưng, “chủ” đây là ai?  Ông Võ Văn Ái đã trả lời : “Hà Nội”. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Ở trên, tôi đã nhắc lại sự “chỉ trích” việc làm của ông Ái của tôi còn mang ý nghĩa là, tôi đã vô tình đồng hóa địa danh “Hà Nội” với “Quốc Gia” ! Tôi xấu hổ dùm cho “quốc gia” vì “quốc gia” bị làm nhục là tâm cảm hay là thái độ chính trị? Có thể đó là “tâm cảm”, cũng có thể là cả hai. “Tâm cảm” là nói cái chung, khái niệm quốc gia chung, đất nước chung (xuất phát từ một tự ái dân tộc, sự tự trọng về dân tộc mình.). Nhưng, nếu đó là một thái độ chính trị, vấn đề phải được xét lại. Có phải thái độ chính trị ấy (của tôi trong 5 năm trước) phù hợp với hành động chính trị của tác giả Nguyễn Hữu Liêm (luật sư) hôm nay không?  “Văn tức là người”, nên tôi xin soát xét lại những gì tác giả Nguyễn Hữu Liêm đã viết. Tôi tìm đọc lại trong cuốn sách “Dân Chủ Pháp Trị” (**)  xuất bản cách nay 18 năm, trong đề mục “Chuyển tiếp từ Cộng sản đến Dân chủ bằng cơ chế Pháp luật”, Nguyễn Hữu Liêm viết : “…Cái mà người Cộng sản phải từ bỏ là sự tàn bạo và hệ quả vô lý của mô thức đấu tranh Leninism và Stalinism. Người Cộng Sản phải chấp nhận nền tảng tư sản Cơ Đốc Giáo như là những nền tảng bắt đầu để họ chuyển hóa trên phương diện ý thức chứ không phải là cách mạng bạo động để xóa bỏ làm lại, vì theo Gramsci không thể làm lại từ đầu được.”  (**) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Hiểu, người Cộng sản Việt Nam “phải chấp nhận nền tảng tư sản Cơ Đốc Giáo như là những nền tảng...” là định luật chính trị hay là một khái niệm của Triết học? Nếu đó chỉ là một khái niệm triết học thì quả là tư tưởng mơ hồ, vì “nền tảng tư sản” chưa hẳn là chỉ có trong Cơ Đốc Giáo (xin thêm: Công Giáo và Tin Lành). Không thiếu gì các trường hợp “chuyển biến” chính trị quốc gia không phải từ nền tảng Cơ Đốc Giáo, đó là chưa kể tính-chủ-quan này đối với “người chủ” (Chế độ) có chấp nhận hay không, dù rằng sự “chấp nhận” ấy sẽ “cứu vớt” cho sự tồn tại của chế độ. Quả thực là trên 300 trang của cuốn sách, tác giả đã dùng lý luận và biện giải để đưa tới một kết luận “hàm hồ” như thế. Nhưng, nếu đó là một định luật chính trị khả thể thì, như tác giả đi đến một khẳng định : “Cái mà người Cộng Sản Việt Nam phải công nhận bây giờ là xã hội chủ nghĩa không có tương lai cho nhân loại và dân tộc… Nghĩa là, yêu nước là phải từ bỏ xã hội chủ nghĩa. Lúc nầy và bây giờ.”  (**) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Nguyễn Hữu Liêm đã kết luận và khẳng định như thế ; đó là một “ý thức chính trị”, không thể chối cãi được. Gần hai chục năm sau, thực tại chính trị là chế độ ấy vẫn tồn tại mà không có “nền tảng tư sản Cơ-Đốc-Giáo” nào cả mà Cơ-Đốc-Giáo còn bị trấn áp một cách tinh vi hơn, và “xã hội chủ nghĩa” vẫn không hề được từ bỏ mà lại xuất hiện một giai cấp tư sản-đại tư sản cán bộ giàu có (nhờ vào ăn cắp, tham nhũng và làm ăn bất chính), nên từ thực tại đó, ta phải có một khẳng định chính trị khác : Họ (CSVN) không phải và không thể là những người yêu nước!  Vậy là tôi có thể kết luận : “Hà Nội”, hay họ (Đảng Cộng Sản) không hề đồng nghĩa với “quốc gia”, cho nên tâm cảm về danh dự “quốc gia” của tôi trong việc “chỉ trích” ông Võ Văn Ái không đồng nghĩa với bênh vực “Hà Nội”.  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Từ một “áng” (***) ý thức chính trị rõ rệt của tác giả Nguyễn Hữu Liêm trong quá khứ trở thành “Nơi Hội nghị Việt kiều: một nỗi bình an”  là một diễn biến “ý thức” bất thường, đi ngược với chiều tiến hóa của tư tưởng, hay nói một cách vẽ vời đó là “một sự phá sản của tinh thần triết học.”  Liệu ông Hoàng Ngọc Tuấn đã nhìn thấy trước hơn ai hết về ý thức “bất thường” đó của tác giả Nguyễn Hữu Liêm?. Vì lẽ, ông là người viết phản hồi bài viết “Nơi Đại hội Việt kiều: một nỗi bình an” trên talawas blog sớm sũa và “mạnh” nhất (28/11/2009 lúc 12:31 sáng.)  Ông Tuấn viết :  &lt;br /&gt;     “Tôi đến sở thú xem người ta dạy thú. Tôi thấy những con thú nghe lời răm rắp. Người ta dạy bằng cách nhét vào mồm chúng những viên thức ăn. Bây giờ tôi mới hiểu rằng để dạy một hạng người nào đó thì cũng tương đương như vậy. Cứ thảy cho vài viên ngọt ngọt, thì hạng người nào đó cũng nói bô bô theo lời chủ, chẳng khác gì những con vẹt đói khát và ngu xuẩn. Tất nhiên so với loài vẹt thì hạng người đó có phần hơn, vì còn biết chêm triết lý vặt vào cho sang trọng nữa!”  -Hoàng Ngọc-Tuấn (trích talawas-comments theo URL link.) &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tôi không làm công việc khai thác nội dung ý kiến phản hồi trên, vịn vào từ nghĩa làm cho “tệ” hơn ý của tác giả,  chỉ muốn viện dẫn chữ “thú” để có thể hiểu như là thái độ, việc làm mang tính “Khuyển mã” thôi.  Song, từ một “áng” ý thức chính trị như Nguyễn Hữu Liêm đã thủ đắc, tôi không tin ông Liêm là một “khuyển mã” tự nguyện. Chỉ có thể hiểu cách khác là ông Liêm bị ảnh hưởng, thúc đẩy, khuyến cáo… đã đến lúc (như khái niệm "market timing" trong thị trường chứng khoáng!) cần phải bộc lộ thái độ chính trị trước dư luận công cộng của một bậc thầy “khuyển mã” từ xa nào đó !?. Do đó, tôi không nghĩ ý kiến phản hồi của ông Hoàng Ngọc Tuấn mang tính cách “mạ lị” mà chỉ là một “phẩn nộ trí thức”, chỉ vì ông nắm được cái “áng” ý thức chính trị của Nguyễn Hữu Liêm quá rõ, qua các tác phẩm của ông Liêm đã viết. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;                                        *&lt;br /&gt;                                     *     * &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Như trong một vài bài viết mới đây, tôi có kể lại về cuộc gặp gỡ với nhà văn Trần Kiêm Đoàn trong một quảng thời gian tôi còn ở trong nước. Trên đoạn đường cùng lái xe từ Sài Gòn ra Huế vào đầu tháng 5/2008, Trần Kiêm Đoàn có hỏi tôi “Ông có giấy mời tham dự Lễ Phật Giáo Vesak ở Hà Nội không?”  Tôi đã nói láo với câu trả lời “có chứ!” cho “oai” vì nghe ông Đoàn khoe có nhận giấy mời từ VN gửi qua Mỹ. Còn tôi, tôi biết tôi đã bị công an chế độ “chơi gát” từ bài viết phạm thượng về Hồ Chí Minh sau khi được mời tham dự Đại Hội Phật Giáo toàn quốc cuối năm 2007 (có nghĩa là không bao giờ được tham dự bất cứ đại hội PG lớn nhỏ nào nữa.).&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Tôi có viết, tôi đã bị “gài” để phải gặp gỡ  các công an tôn giáo cao cấp này nọ, vì thật lòng tôi rất buồn bực vì chuyện đó. Nhưng đã lỡ, phải lần thôi. Ở Hà Nội, tôi được ông Đại tá VT. tiếp xúc. Rồi sau đó, ông vào Sài Gòn thăm tôi vài lần… (tôi xin mở ngoặc: tên họ, chức vụ của Công an chế độ CSVN khi còn nẳm trong quyền lực chìm, không có gì bảo đảm là chính xác và đúng thật, nên viết tắt là thận trọng!), tôi đã bắn tiếng trước rằng, “Tôi sẽ xin hồi hương về nước, nhân tiện đem mẹ già tôi về để chuẩn bị chết trên quê hương. Tôi đã ‘già’ rồi (thật ra thì chưa già gì lắm!), tôi chỉ muốn được làm công dân về hưu, không muốn mang ơn nhà nước bất cứ điều gì…”  Thế mà tôi cũng đâu được yên thân, phải bị “ép, đẩy” phải rơi vào tình huống này khác… để cuối cùng phải bị “chơi khăm” vì chuyện chủ quyền bất động sản. Nhưng, xin thưa với công luận: Không hề có chuyện tôi bị chế độ “vắt chanh bỏ vỏ” gì hết do từ suy luận thời gian làm một số công việc “khuyển mã” cho giaodiem.com. Với một lý cớ khác, tôi vẫn được họ "trọng đãi", sửa soạn giới thiệu việc làm cho tôi ở một đại học v.v..., họ còn cho người theo sát để nếu tôi cần gì thì họ giúp, nhưng đó cũng là lúc tôi tìm đường “trốn” về Mỹ, khi nhận thức rõ: chế độ này sẽ ngã theo con đường Trung Cộng. Tôi nghĩ, điều đó, có thể lợi ích cho “Hà Nội” nhưng đi ngược lại quyền lợi “Quốc Gia”, trong đó có đại đa số người dân Việt. Thái độ chính trị đó, cũng không phải vì cớ tôi mang mặc cảm định kiến thù ghét người Trung Hoa hay coi thường nền văn hóa vĩ đại của họ.  Tôi không chấp nhận, vì tôi biết phân biệt sự khác nhau giữa danh xưng “chế độ Hà Nội” và “đất nước/quốc gia.”  Tôi không hề vì sự “bất mãn”, hay bị “vắt chanh bỏ vỏ” nào khi tuyên bố chế độ Việt Nam hiện nay là một chế độ “khốn kiếp” (hay “khốn nạn”) thì cũng như nhau. &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Một sáng cuối Đông (2007) ở Hà Nội, trong một quán cà phê bên một bờ hồ nhỏ, Đ.tá VT có hỏi tôi về ông Võ Văn Ái, tôi trả lời và “đề nghị”: Nhà nước VN nên mời ông Võ Văn Ái về tham dự Lễ Phật Đản Liên-Hiệp-Quốc Vesak. Tôi giải bày về những điều lợi chung cho toàn thể Phật Giáo và Đất nước sẽ như thế nào. Dù cho cá nhân ông Ái không chấp nhận lời mời đó, hành động công khai (gửi giấy mời) của Ban Tôn giáo cũng là điều hay trước công luận. “Họ” chỉ nghe và không có ý kiến. Có thể là “lẽ tất nhiên”, sau đó không ai làm chuyện "mời" đó, và có thể lời đề nghị của tôi đã được truyền qua tai nhiều người khác –trong số có người “thù ghét” ông Võ Văn Ái và rồi ghét lây cả tôi nữa. Không sao cả. Nếu tôi dám nói những điều mình nghĩ đúng mà, không hề ngại tới những thiên kiến trước một quyền lực chính trị cũng là điều hay. Một dự kiến khác là, giả như Bộ Công an Hà Nội họ lại “khoái/ đắc ý” về lời đề nghị của tôi, liệu ông Võ Văn Ái có “bị” những xúc động như một số Tiến sĩ-Trí thức vừa qua đã bị trong Đại hội Việt kiều tại Hà Nội (dù ông có hay không tham dự) ?&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     Trong khi cầm bút viết những dòng này, tôi vẫn còn thắc mắc, liệu ông Võ Văn Ái gọi “Nhóm Giao Điểm” (trong những năm về trước “có tôi”, và hiện nay là giaodiemonline.com và một bộ phận nối kết của họ) là “bọn Khuyển mã” chỉ vì “họ” là những kẻ “làm tay sai cho Hà Nội” muốn phá đổ Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất, để cho Giáo Hội Phật Giáo (của Hà Nội) chủ động lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo cả nước, vì cố bênh vực cho sự tồn tại vô thời hạn của chế độ CS, hay chỉ vì lý do “họ” từng lên tiếng “tố cáo” ông đã nhận tiền của Cơ quan NED và v.v…?  Và, nếu trong quá khứ ông Ái đã nhận tiền của NED thì ông có thể xác định người “chủ” để phục vụ trong trường hợp này là ai? Hay, ông chỉ mượn phương tiện của người ngoài để phục vụ cho người “chủ” của mình là Phật Giáo Việt Nam và Dân Tộc Việt Nam thôi?  &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;     (Để kết luận) Có thể nào nói được rằng, chỉ vì tinh thần yêu Nước, yêu Đạo (nói chung) –ở một mức độ nào đó, hoàn cảnh nào đó, trong vai trò nào đó -tất cả (cá nhân) chúng ta không khéo đều có thể trở thành nạn nhân của “khuyển mã” ?  Tôi không biết trả lời thế nào, nên đành phải mượn tư tưởng của Vương Thông để tự nhủ mình: “Tự tri giả anh, tự thắng giả hùng”  (Tự biết mình là anh, tự thắng được mình là hùng) vậy. &lt;br /&gt;Nguyễn Văn Hóa&lt;br /&gt;Sunday, December 06, 2009 &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Vài ghi chú: &lt;br /&gt;&lt;br /&gt;(*) Ông Hoàng Nguyên Nhuận (qua bút hiệu Hoàng Đông Tà, có thể là một "khuyển mã"!) có viết:&lt;br /&gt;Ngụy Quân tử Võ Văn Ái: Hoàng Thượng Cỡi Truồng (web Chuyển Luân) &lt;br /&gt;(**) Dân Chủ Pháp Trị, Nguyễn Hữu Liêm, Nhà xuất bản Biển Mới 1991, các đoạn trích dẫn: các trang 312, 347.. &lt;br /&gt;(***) “Áng” là một đám, một vũng… là một "mớ", một "đống", là cái thực hữu.. của con đường công danh, nên đã có câu dao trong dân gian:&lt;br /&gt;“Tang bồng là cái nợ,&lt;br /&gt;Đừng làm trai chỉ sợ áng công danh”&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-2846957261717654195?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/2846957261717654195/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=2846957261717654195' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/2846957261717654195'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/2846957261717654195'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/ngam-nghi-ve-nhom-chu-bon-khuyen-ma.html' title=''/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry><entry><id>tag:blogger.com,1999:blog-4534637474520388583.post-7437851280611274795</id><published>2010-01-23T19:23:00.000-08:00</published><updated>2010-01-23T19:35:07.814-08:00</updated><title type='text'>Ngày ra mắt Blog của Nguyễn Văn Hóa</title><content type='html'>Hôm nay là ngày thứ bảy 23/01/2010, tôi ra mắt blog cá nhân để có cơ hội phổ biến một số bài viết đem từ trang web: Hội Tụ http://giaodiem.us (có thể sẽ closed down trong một ngày gần đây), đồng thời góp mặt với quý bạn đọc và thân hữu qua URL miễn phí của Google Blogger, với đường URL của tôi theo sau:&lt;br /&gt;&lt;a href="http://hoavanguyen.blogspot.com/"&gt;http://hoavanguyen.blogspot.com/&lt;/a&gt;&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Kính báo&lt;br /&gt;&lt;br /&gt;Nguyễn Văn Hóa&lt;div class="blogger-post-footer"&gt;&lt;img width='1' height='1' src='https://blogger.googleusercontent.com/tracker/4534637474520388583-7437851280611274795?l=hoavanguyen.blogspot.com' alt='' /&gt;&lt;/div&gt;</content><link rel='replies' type='application/atom+xml' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/feeds/7437851280611274795/comments/default' title='Post Comments'/><link rel='replies' type='text/html' href='http://www.blogger.com/comment.g?blogID=4534637474520388583&amp;postID=7437851280611274795' title='0 Comments'/><link rel='edit' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7437851280611274795'/><link rel='self' type='application/atom+xml' href='http://www.blogger.com/feeds/4534637474520388583/posts/default/7437851280611274795'/><link rel='alternate' type='text/html' href='http://hoavanguyen.blogspot.com/2010/01/ngay-ra-mat-blog-cua-nguyen-van-hoa.html' title='Ngày ra mắt Blog của Nguyễn Văn Hóa'/><author><name>Nguyen Van Hoa</name><uri>http://www.blogger.com/profile/03307583413621632073</uri><email>noreply@blogger.com</email><gd:image rel='http://schemas.google.com/g/2005#thumbnail' width='16' height='16' src='http://img2.blogblog.com/img/b16-rounded.gif'/></author><thr:total>0</thr:total></entry></feed>
