Search This Blog

Monday, January 25, 2010

Tiếng hát của màu xanh

Tiếng hát của màu xanh

Nguyễn văn Hóa (Thường Đức)



Có tiếng chuông điện thoại reo. Tôi cầm ống nói lên và “a lô”, thì nghe giọng nói của một phụ nữ với âm thanh như thân thuộc từ thuở nào,

“Có phải H. đó không? Chị Hà đây!”

“Trời ơi, chị Hà. Chị đang ở đâu đó, mà chị qua Mỹ từ hồi nào, có bé Uyên đi theo không?”

Tiếng chị Hà thánh thót trả lời,

“Hai mẹ con chị mới qua. Gia đình bảo lãnh.”

Tôi vui mừng, tíu tít hỏi được vài câu và còn muốn hỏi thêm nhiều câu hỏi nữa thì chị ngắt lời một cách tự nhiên:

“Thôi, lắng tai để chị hát cho H. nghe.”

Tôi cụt hứng… trong vài giây im lắng thì giọng hát đầu kia vang lên,

“Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào. Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào. Lời mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào. Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu…”

Bản nhạc ‘Lòng Mẹ’ của nhạc sĩ Y Vân qua giọng hát của chị Hà thật tuyệt. Giọng hát vẫn như ngày xưa theo từng tiếng rung thanh như được tẩm trái chanh giấy cắt mỏng ngâm với đường phèn. Đây là bản nhạc Si-bémol nhịp bốn với 10 câu mở đầu bằng những nốt nhạc đằm rất dễ hát, nhưng bước qua câu thứ hai, đổi tone lên cao vút… Tình mẹ tha thiết như giòng suối hiền ngọt ngào… thì cần có một kỹ thuật chuyển tone thất khéo, nếu không nó sẽ “ré, rống” lên như giọng mấy cô ca sĩ cán bộ được đào tạo từ lò nhạc viện Trung Quốc. Thế mà kỹ thuật chuyển tone từ giọng hát chị Hà như tiếng con diều nhờ gió đưa cao vút lên tạo ra một thanh âm nhẹ nhàng, bất chợt, khó nhận ra sự chuyển biến thanh độ. Khác xa với tiếng “vút” của chiếc phi tiển bắn thẳng lên trời như mấy cô ca sĩ được đào tạo trong chùm xã hội chủ nghĩa quốc tế ngày nay.

Tay tôi cầm ống nói điện thoại và nghe một giọng hát văng vẳng quen thuộc từ chiếc ra dio hiệu Philips của chú Thọ từ thuở tôi còn nhỏ. Hình như giọng hát của chị Hà nổi danh từ thời của Lệ Thanh thì phải. Tôi không quan tâm tới điều “nổi danh” này lắm, và nói thành thật thì khi lớn lên tôi không “mê” giọng hát của chị Hà, chỉ vì nó không hợp với cái “gu” của tôi. Thế thôi. Tôi thích một giọng hát nhừa nhựa có chất ma túy của phòng trà và mùi rượu. Giọng hát của chị Hà là giọng hát của những cánh đồng xanh, của những giòng sông thơ mộng, hiền hòa. Bắt chước một cuốn phim Việt Nam nào đó, tôi gọi giọng hát của chị là giọng hát của màu xanh lá đu đủ. Màu xanh của lá chuối non, chứ không phải là màu xanh “blue” buồn bã. Đó là giọng hát của một xã hội thanh bình, của niềm tin yêu và hy vọng. “Làng tôi êm đềm soi bóng Hương Giang. Những đêm trăng sáng lung linh giòng sông. Có cô giặt ếm bên bờ dịu dàng. Vẳng tiếng khoan hò, dìu dặt lời nhạc ru….”

Sau này, ở hải ngoại, thi thoảng tôi có nghe chị Hà hát nhạc Phật Giáo, giọng hát chị vẫn hay, thanh, cao nhẹ, và tôi tự đặt thêm cho giọng hát của chị bằng một nhóm chữ trừu tượng khác, “giọng hát của Từ Bi”.

Lời chào của chị Hà gởi đến tôi –qua bản nhạc Lòng Mẹ, nhân ngày mẹ con chị đoàn tụ ở Mỹ với gia đình tính đến nay, đã gần một phần tư thế kỷ. Hôm ấy chị hát một lèo hết bản nhạc nhạc Lòng Mẹ, kể cả phần điệp khúc, hát xong chị nói thêm vài lời và chia tay. Cúp phôn. Tôi không có cơ hội để gặp gỡ một lần nữa, chỉ nghe được tin chị qua người khác. Nhưng, từ đó đến nay tôi vẫn cứ thắc mắc hoài, tại sao chị Hà chọn bản nhạc Lòng Mẹ hát cho tôi nghe mà không phải là bản nhạc khác? Lòng Mẹ? Ý chị muốn ngợi ca lòng mẹ của mẹ tôi, lòng mẹ của chị đối với cháu Uyên, hay là lòng mẹ Việt Nam? Tôi không trả lời được điều thắc mắc này; dù sao, với sự quen biết, đi lại giữa chị và gia đình tôi, cho phép tôi nêu ra điều thắc mắc cắc cớ này.

Đúng ra, tôi không quen biết chị Hà, vì lẽ thế hệ của chị lớn tuổi hơn tôi. Tôi cũng không hề quan tâm đến chị mang họ gì, chỉ biết tên hiệu ca sĩ của chị là Hà Thanh. Ở Sài Gòn, có lúc nghe người ta đồn ngày trước, chị là người yêu của nhạc sĩ có bản nhạc nổi tiếng “Đàn ơi, xa rồi” của Hoàng Nguyên Cao Tự Phúc. Và, hình như là ông Hoàng Nguyên CTP có tham gia vào phong trào tranh đấu Phật Giáo của một thời chính trị hoang tưởng của thế hệ trẻ ở Huế thì phải!.

*

* *

Chị Hà là bạn của người anh kế tôi (ông Nguyễn Tiến). Sau khi anh tôi đi học tập cải tạo chừng bốn năm thì được Cộng sản cho về. Tôi là em, nhưng lập gia đình trước, anh tôi còn độc thân. Trong thời gian học tập về, ông gia nhập vào Hội trí thức yêu nước (HTTYN), và đi làm cho Viện Khoa học Xã hội ở Sài Gòn. Tôi không biết chị Hà và anh tôi quen nhau từ hồi nào, nhưng vào thời gian này, chị hay đến nhà tôi chơi, và thỉnh thoảng, tôi còn thấy hai người đi hát chung ở Hội TTYN. Có lần tôi đi dự một buổi văn nghệ do Hội TTYN tổ chức, tôi được nghe anh tôi hát một vài bản nhạc, xong rồi ông ấy đàn cho chị Hà hát. Tôi nhớ hôm đó chị hát thật tuyệt. Tôi cố ý ngồi một mình ở một góc xa, thế mà chị nhìn thấy tôi từ lúc nào, khi hát xong, chị đi ra cửa nhìn tôi chào hỏi thật tử tế.

Dần dà, tôi và chị Hà cũng trở nên quen thân, trong tình chị em. Tôi vẫn thường cỡi xe Honda, có khi đạp xe đạp thăm hai mẹ con chị. Chồng chị bị đi học tập cải tạo ngoài Bắc, nghe nói ông ấy làm thứ trưởng quốc phòng 3 ngày trong chính phủ của ông Dương văn Minh, trước khi miền Nam mất vào tay người cộng sản miền Bắc. Không biết nhà cửa của gia đình chị có bị cộng sản tịch thu hay không, chỉ biết mấy lần tôi đến thăm chị, chính quyền Việt cộng cho hai mẹ con chị ở trong một căn phòng nhỏ vừa đủ để một cái gường lớn hai mẹ con nằm, góc trong có một cái cầu tiêu và một chỗ để đứng tắm. Trên tường ngay chỗ đầu nằm, đóng một miếng gỗ lớn để thờ Phật và thắp nhang. Ngay chỗ gường ngủ, để vài cái ghế nhựa để tiếp khách. Khu nhà chị Hà ở nằm trên đường Công Lý, nay đã đổi thành tên khác. Mỗi lần tôi đến thăm chị, thấy tình cảnh này, tôi rất cảm động. Có lần chị kể, tấm gỗ trên tường làm bàn thờ Phật nhỏ, đóng không kỹ sao đó nó rơi xuống gần đầu nằm nhỏ Uyên, súyt chút nữa bể đầu. Chị vừa kể vừa ứa nước mắt. Cháu Uyên lúc đó chừng 6, 7 tuổi, người nhỏ nhắn, da thật trắng, nét mặt khôi ngô, xinh xắn. Chị ở trong hoàn cảnh kinh tế không khá gì hơn bao nhiêu người khác sau ngày “giải phóng”, thế mà nhiều khi chị phải nhịn để có tiền mua cho con gái phó mát ăn với trái chuối để giữ gìn sức khỏe cho con mình. Đúng là, “Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ. Một tình thương mến êm như tiếng đàn lời ca…”

Tôi vừa nghe được nguồn tin, giờ đây thì cháu Uyên đã lớn khôn, trưởng thành và thành đạt về đường học vấn ở Mỹ.

Thế hệ của cháu Uyên cũng ngang bằng với các cháu bé Tý và hai em trai sinh đôi “cu anh” và “cu Em” con của chị Phượng. Nhà chị cách nhà gia đình tôi chỉ một bức tường kép. Chị P. người Bắc di cư trong một gia đình nề nếp nho phong, có chồng ở ngành Không quân, vào thời gian biến động 30/4/75, ông một mình ra đi vội vã, để lại vợ con. Chị ấy sống trong cảnh cô đơn kín cổng cao tường, quyết một lòng nuôi con, chờ đợi đoàn tụ với chồng. Cu Anh và cu Em là hai bé trai kháu khỉnh, dễ thương… đôi khi được bà ngoại và mẹ cho hai nhỏ qua chơi với tôi. Có lần cu Anh thấy tôi bận cái quần xà lỏn có “cửa sổ”, hớ hênh sao đó, nó lấy tay chỉ rồi la lên “Ê, cậu H. lêu lêu mắc cỡ, mặc quần lòi chim ra ngoài.”, rồi cười ré lên thích thú. Mới đây, tôi đã nghe được tin mấy mẹ con chị P. cũng đã được đoàn tụ với gia đình nhiều năm trước, các cháu cũng đều trở nên những người thành đạt và giỏi giang.

Trong chuyến vượt biển của anh tôi, lẽ ra anh tôi đã hứa hẹn mang theo là hai mẹ con chị Hà, thế nhưng trong thời gian lên đường khẩn cấp, chị Hà bất ngờ trở về quê thăm gia đình, nên đành phải bỏ lại. Bù vào hai chỗ mà phía chủ ghe tổ chức vượt biển “cho”, anh tôi đem theo hai mẹ con của người chị tôi ra đi. Đứa con trai của người chị tôi, ngày nó ra đi học lớp 8, lớp 9 gì đó thôi, nhưng qua Mỹ chừng 8 năm sau cháu cũng là một người thành công và tài giỏi. Ngày còn làm học sinh ở quận Tân Bình, nó là học sinh “tiên tiến, cháu ngoan bác Hồ”. Tôi còn nhớ một kỷ niệm. Một buổi sáng sớm nhân kỷ niệm lễ chiến thắng 30/4 của cộng sản, cháu thức dậy sớm, mặc áo sơ mi trắng, quần xanh, cổ choàng khăn đỏ, tụ tập trước sân nhà tôi là khu vực của phường 4, quận Tân Bình, chuẩn bị đi diễn hành. Trên vai đeo một cái trống con, hai tay cầm đùi trống, đánh trống theo điệu nhạc quân hành… Cắc cùm cùm, cắc cùm… cắc cùm cùm, cắc cùm và cả bọn đồng ca,

Như có bác Hồ trong ngày vui đại thắng,

Lời bác nay đã thành chiến thắng huy hoàng…


Thấy người trong nhà đứng trước hiên nhìn ra, nét mặt nó bẽn lẽn, e thẹn, nhưng tiếng trống vẫn cứ tiếp nối… cắc cùm cùm, cắc cùm…

Từ Huế trở về lại nhà tôi thăm, chị Hà biết tin anh tôi đã lên đường bình an và được tàu vớt sang Tây Đức, chị mừng, nhưng trong nét mặt không che dấu được nỗi buồn, thất vọng… Tôi không biết nói sao cho phải lẽ.

Thế rồi thi thoảng, tôi cũng đạp xe xuống thăm chị. Hai mẹ con chị vẫn thui thủi, cô đơn trong căn phòng nhỏ. Có lần, tôi gặp ông Bùi tường Huân đi học tập cải tạo trở về, đến thăm hai mẹ con chị. Trông ông ấy có phần ốm đi hơn ngày xưa, nhưng nét mặt vẫn còn tinh anh, sức khỏe tốt. Chị Hà từng kể cho nghe, gia đình vợ ông ấy đã được W. Colby đem đi cả tháng trước ngày 30/4/75! Tôi định trao đổi với ông nhiều chuyện, nhất là chuyện Phật Giáo, và chính quyền Dương văn Minh trong mấy ngày cuối cùng, nhưng thấy chị Hà ra dấu bằng ánh mắt “đừng”, nên tôi đành bỏ qua chuyện đó. Thế mà một thời gian ngắn, sau khi tôi ra đi, tôi nghe ông BTH đã chết trước khi được lên đường đoàn tụ với vợ con. Có nên nêu ra những khúc mắc nào trong cái chết này không? Liệu cộng sản có muốn xóa những liên hệ đến một quá khứ mà họ rất e ngại? Vẫn còn là một bí ẩn…

Có lần ngồi nói chuyện với đứa cháu con chị tôi, hiện là giám đốc bộ phận nghiên cứu và phát triển (research & development) của một công ty điện toán, tôi muốn ‘thử lòng’ nên nói với nó: “Bây giờ đã thành đạt rồi, thì mầy nên nghĩ đến việc làm một cái gì đó để về giúp nước!” Đang cười nói vui vẻ, bỗng dưng mặt nó như muốn nổi quạu, trả lời tôi, “thì cậu phải làm sao cho hết cộng sản đi, rồi con về giúp nước cho.” Nghe nó trả lời, tôi tiu ngỉu. Phải suy nghĩ thật kỹ mới hiểu được vì sao một đứa bé từng choàng khăn đỏ, có tiếng “cháu ngoan bác Hồ” mấy chục năm về trước mà giờ đây nó phát biểu được những lời như thế.

Hôm nay, vào những ngày đi vào mùa Xuân nắng ấm, tôi bỗng nhớ tới chị Hà và tiếng hát của màu xanh qua bản Lòng Mẹ chị đã hát tặng tôi vào một phần tư thế kỷ qua. Không phải chỉ giọng hát mà cả nội dung của bài ca cưu mang một lòng mẹ bao la, dạt dào. Đó là thứ lòng mẹ rất Việt, ngọt ngào, trái ngược với thứ ‘lòng mẹ tuyên truyền’, “Mẹ già cuốc đất trồng khoai. Nuôi con đánh giặc đêm ngày...” Không có “thứ” lòng mẹ nào lại chỉ muốn suốt đời ăn khoai sắn để lo cho con trai ngày đêm đi đánh giặc! Đó là thứ lòng mẹ “vô hậu”, không tương lai. Và những đứa con có hiếu để thì không thể để cho mẹ mình khốn khổ, thê lương, “áo rách sờn vai” hoài như thế mãi. Phải biết làm cho người mẹ hiu hắt trở thành một người mẹ thuần hậu, miệng nở nụ cười thỏa thuê với đàn con khôn lớn, nên người hữu dụng cho tương lai, để lòng vẫn hoài mong đàn con “quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu” một ngày đẹp trời nào đó.

Nghĩ về sự thành đạt của các người cháu, con chị Hà, các con chị Phượng, con chị tôi và con em của hàng ngàn, hàng vạn người mẹ khác nơi đất khách quê người… tôi bỗng nhớ đến các cháu thiếu nhi đang ở nơi quê nhà “buồn thiu” trong học đường với sự phân chia, kỳ thị chính trị -nửa tinh vi, nửa trần truồng, thô bạo. Các cháu hầu như không có những cơ hội may mắn nào để xuất ngoại, để có một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn. Các cháu sẽ không còn mang những nỗi sợ hãi như một đám trẻ trong khu xóm nhà tôi, ngày tôi còn ở trong nước, chúng vẫn hay tụ năm, tụ ba, hát đùa chơi với nhau:

Đêm qua em mơ gặp bác Hồ,

Tóc bác rụng, râu bác trụi lơ.

Em kinh hãi run run… thưa bác,

Xin bác Hồ… hãy tha cho con

Xin bác Hồ… hãy tha cho con…


Người chết thì không thể “tha” cho ai được, nhưng chính người sống thì có thể mang lại cho thiếu nhi Việt Nam một tương lai tốt đẹp, được đối xử bình đẳng, được học tập bình đẳng, được nâng đỡ một cách công bằng, không phân chia giai cấp, quá khứ chính trị của cha mẹ chúng. Phải không, thưa các bác còn sống!

Nguyễn văn Hóa

Friday, March 16, 2007

Giã từ quận Cam: nơi cánh cửa cuối cùng

© copyright giaodiem.us - 2009 | ( Anyone, who intends to copy this free article - must copy the one "it says: the last-edited article", together with active-URL. That's the true copy by law. --nvh. )
___________________________________________________________________________________
Saturday, August 01, 2009

nghĩ vắn trong ngày | Giã từ quận Cam: nơi cánh cửa cuối cùng
| "the last-edited article" August 04, 2009

http://giaodiem.us/us-2009/3_2009/01.8.2009.nvh.giatuOrange.htm

nguyễn văn hóa

Tôi quyết định đến quận Cam, một thời gian ngắn sau khi từ cõi địa ngục Việt Nam trở về. Trước đó vài tháng nghe nhắn tin qua email ông Lý khôi Việt (tức Lê hiếu Liêm) bị đột tử. Một kẻ hữu thiền-đốn-ngộ lâu năm, nghe tin ấy chắc xót xa; tôi một người thiền-chưa-đủ nên khi tin buồn ấy thì chợt tỉnh cơn mê, chỉ thấy “cõi trần gian là cõi tạm”.

Tôi email cho chị Thái kim Lan nhờ xác nhận nguồn tin ấy, nhận được hồi âm với lời chia buồn tôi mới tin là thật. Tôi không đi dự lễ tang, không làm gì cả, không xum xoe khóc lệ mà chỉ phóng vài ‘hạt nhân điện’ nhờ không gian –chia buồn dùm. Biết trước là nơi lễ tang ấy sẽ có nhiều trí nhân, thức giả, Phật tử ‘truyền tử lưu tôn’, ‘như thị hư văn’, thương vay khóc mướn. Cõi trần gian là cõi dễ lãng quên, có gì đâu mà bi lụy!

Tôi chợt nhớ tới ‘ông sư’ từ bên Pháp chu du qua nước Mỹ có tục danh là Phan Tấn Hùng, bút danh Đỗ Thuận Khiêm, chấp Pháp danh là Thích Pháp Hiền, dịch giả danh là Pháp Thuận. Một đệ tử của ngài Thích Thiện Châu, mệ Mạn Đà La, và có liên hệ giây mơ rễ má gì tới ‘bà Dung’ của Đại sứ quán nước Cộng hòa XHCNVN hay không, thì chưa rõ. (1)

Tôi gặp “ông sư” này từ ngôi chùa Quảng Đức ở San Jose (trong thời gian tôi đang làm web giaodiem.com, .net) , hình như đây là nơi ‘cánh cửa đầu tiên’ của ngài Thích Pháp Châu trên dặm đường Phật nghiệp. “Sư” Pháp Hiền có cái miệng dẽo như kẹo mạch nha xứ Quảng, âm thanh thánh thót ‘ong bướm’ gót hài chân không miền Phú Yên. “Sư” có cái tật lạ là có một ngón tay trỏ hình chữ thập, mà theo sách tướng số tôi không dám nói ra sợ phạm thượng vào đấng Tam Bảo.

Tôi du thiền Santa Ana không phải vì nghe lời ngọt bùi của “sư” hứa hẹn, bán rẻ hay cho không cái mobilehome “sư” đang ở để trú tấm thân, sau khi bị ‘tổ Tàu’ trát ở Sài Gòn. Có thể sư nghĩ tôi là thằng đã cháy túi, nhưng chắc còn rủng rĩnh đồng tiền ‘bất hợp pháp’? Nếu đúng thế thì chắc “sư” nhầm, “sư” nhầm vì sư nghĩ non.

Tôi về khu mobilehome của “sư” tọa lạc bên góc đường First/ Fairview, phía đông nam thành phố Santa Ana. Ở với “sư” được mấy ngày, tôi mới “như thị” được ‘bản lai diện mục’ của một kẻ khoác áo nâu sòng. “Sư” ăn nói tía lia, sư thuyết giảng chính trị, chính em, sư moi móc chuyện nước non ngàn dặm, chuyện thế sự nhân tình, chuyện dòng họ "Thân trọng"... Không giống như những ‘thủ pháp’ của các sư khác, thí dụ như sư Nhật Từ, là người được huấn luyện bài bản (có soạn Pháp án, kỹ thuật dùng chữ, phóng câu trước), hay sư Thích Chơn Quang nhờ ‘điềm nhiên tọa thị’ mà ngộ được cụ Hồ-Chí-Minh-là-Bồ-Tát; “sư” Pháp Hiền thích “ngã thị” mình là kẻ cố vấn chuyên ngành về đối ngoại cho các vị lãnh đạo đồng-hành-với-dân tộc. Vì cống cao ngã mạn như thế, “sư” quyết tâm khuất phục kẻ khác bằng tài trí phi thường, thông kim bác cổ. Thỉnh thoảng, “sư” có người bạn tâm đầu làm nghề ‘construction’ là Trương hồng Hải, có cái mặt bèn bẹt giống như anh chàng Nguyễn thành Trung ở trong khu cư xá 324 xóm nhà tôi, đường Võ Tánh nối dài Sài Gòn cũ, đến tham gia ý kiến cho không khí thêm phần õm tỏi. Tôi không dè, cậu construction này và sư Pháp Hiền có mối liên hệ chí-tình với chú Trần văn Thông ở Texas (mà chú TVT (2) này là một loại ‘kiện tướng’ khác, nên tôi xin đặt tên là những cư-sĩ-phụ-đạo. Cư-sĩ-phụ-đạo là kẻ uyên thâm chánh Pháp không thua gì sư chánh pháp, nhưng “đầu không trọc'’ để còn phải đi mần ăn, kiếm tiền, vợ con này nọ.

* * *

Những ngày mùa Đông trước Tết ở San Jose, trời lạnh gắt. Tôi lái xe đi thăm bà mẹ. Trước khi đến, ghé quán phở Như Ý mua cho mẹ một tô phở-to-go, ai dè có kẻ gọi: ‘Ông Hóa, ông Hóa’. Giật mình ngó lại, hóa ra ông Phong-râu đang ngồi ăn phở với một người bạn nào đó.

Ông Phong có biệt danh là Phong-râu vì có bộ râu mép khá đậm, có một giọng Bắc kỳ lè nhè, nhừa nhựa. Theo chỗ tôi biết, Phong-râu có theo học khóa I (?)/ hoặc khóa II Đại học Chiến tranh Chính trị, Đà Lạt.

“Trời ơi, lâu ngày quá mới gặp lại ông. Không biết ông mất tích đâu rồi. Thằng Quỳnh nó rất muốn gặp ông. Bây giờ ông cho tôi xin số phôn của ông. Các ông là người Thừa Thiên với nhau mà. Ông có biết chuyện thằng Lý Tống nó chơi thằng Quỳnh không?”. Phong-râu nói một hơi thật dài. Trông ông Phong mập hẳn ra, bệ vệ… khác với điều tôi nghĩ về tin ông bị tai biến mạch máu não. Trao đỗi với Phong-râu một hồi, tôi chào từ giã.

Tôi quen biết ông Quỳnh khi ở Mỹ là qua một người bạn khác là Mạnh (Lê gia). Mạnh trước đây từng làm thông-dịch-viên cho một cơ quan Mỹ ở Sài Gòn. Khi đến tạm trú ở San Jose, tôi gặp lại Mạnh trong một quán cà-phê, Mạnh mới giới thiệu tôi với Quỳnh. Lần hồi mới biết Quỳnh là một mechanic giỏi nên thỉnh thoảng tôi từng nhờ sửa xe, hay đi đấu giá xe cũ dùm. Quỳnh là một tay rất khí phách giang hồ, chơi đẹp với anh em bè bạn. Còn Lý Tống tôi chỉ nghe là em của Lê xuân Nhuận –người mà Nguyễn đắc Xuân khi đến Mỹ có nhờ tôi liên lạc, và đã hẹn gặp nhau ở một quán ăn Dim-Sum Tàu ở Menlo Park. Thế thôi. Chuyện chẳng có chi để mà “ầm ĩ”.

* * *

Thời gian tôi ở Việt Nam (10/07-8-2008) sau mùa Tết Âm lịch, tình cờ tôi đọc được một số bài viết lời qua tiếng lại giữa Lý Tống và Trần mạnh Quỳnh trên Net, một điều đáng ngạc nhiên và rất xấu hỗ, không chỉ riêng cộng đồng người Việt ở miền Bắc California, mà còn tập thể những người chiến binh ngày hôm qua từng là tù tội cải tạo dưới chế độ Cộng sản. Vì sao ra nông nỗi tôi không hiểu được, và thật tâm cũng chẳng muốn tìm hiểu. Từ Việt Nam trở về Mỹ, tôi có gặp anh Định (chủ công ti sửa chữa computer Sunrise) là một cựu sĩ quan tình báo hải quân, tôi có hỏi qua câu chuyện. Anh Đ. rất dè dặt, chỉ trả lời một câu sơ sài, “thằng ăn không được nên nó ganh đó anh.” Câu nói đơn sơ chừng ấy nhưng lại chứa chất nhiều phiền não. Tôi không muốn nghĩ xa hơn nữa. Giả như điều đó là một phần khúc mắc của sự thật, thì quả Lý Tống là một thằng-ăn-mày – chỉ hơn Nguyễn cao Kỳ một gang tay thôi.

Vài ngày sau khi gặp Phong-râu, ông TMQ liên lạc với tôi bằng cell-phone và mời tôi tới quán cà phê (tên gì đó quên rồi, nghe nói là của bánh mì Ba Lẹ.) Tôi có kể cho ông Q. nghe hôm trước thằng Hà trọng Đoan mời tôi tới nhà uống rượu, có cả Lý Tống nữa. Tôi không muốn tham dự chút nào cả, vì hơn mười năm qua tôi không hề giao tiếp với nhân vật HTĐ. Họ có ý đồ gì đây? Khi đến nhà vợ chồng Hà trọng Đoan, thấy trên bàn tiệc có nhà thơ Nguyễn lập Đông, Lý Tống (đây là lần thứ hai tôi gặp mặt), một cặp vợ chồng khác tôi chưa hề gặp bao giờ. Trong lúc trò chuyện, nghe tên Lý Tống có vẻ ‘nổ’ và ồn ào quá, nên hơi bực lỗ tai. Một lát sau, tôi rời bàn tiệc để đi đái, lúc trở lại bàn thì cả Lý Tống và Nguyễn lập Đông có ý nhắm vào tôi –kế tục nhau nói nêu lên vấn đề: Sao không chịu nhận người ta làm ‘thầy’, nếu không mọi chuyện đã xong rồi, tụi Cộng sản nó ngu thấy mẹ biết gì đâu… Tôi bỗng thấy nóng lên ở hai mang tai, tính lấy một chai bia không nện một cái vào đầu Nguyễn lập Đông nhưng dằn lại được, tôi hỏi ngược : Các anh hãy cho tôi một thí dụ cụ thể, ai muốn làm ‘thầy’ tôi? Và ‘thầy’ về phương diện gì đã chứ?... Tôi lại đặt vấn đề với Lý Tống –Tại sao ‘ông’ không chịu nhận lời thách “đấu súng” của TMQ, nếu quả thật ông là người có khí phách anh hùng? Lại đề cập thêm bài báo của Nguyễn hữu Liêm về ông Q. Như thế, tôi vừa vô tình vừa hữu ý phá tan mưu định của bữa tiệc nhậu này, cũng là lúc tôi vờ đóng kịch nổi nóng, để có cớ thoát ra khỏi bàn tiệc. Khi tôi bước ra bên ngoài, đèn đường đã bật sáng, gió thoảng từng cơn mát lạnh. Xin cáo biệt loại chính trị bia nhậu, đảng phái đàn ca xướng hát của người Việt loại này.

* * *

Tôi đem chuyện "nhóm rượu" hôm trước kể lại cho Quỳnh nghe (và có nhấn mạnh), tôi gặp một tay đàn ông lạ mặt không được giới thiệu là ai nhưng trông giống thằng Nguyễn thành Trung quá. Nguyễn thành Trung là nhân vật ai cũng biết rồi. Khi hắn được Đảng cho vào ở khu cư xá của xóm tôi -căn nhà cướp giựt từ gia đình một ký giả đã bỏ đi Mỹ (vợ Việt chồng Mỹ). Tôi nói “cướp giựt” bởi hắn và vợ con chỉ được dọn vào ở sau khi chính quyền cố tình trục xuất một người thân (là mẹ) trong gia đình còn ở lại, nhưng không có tên trong hộ khẩu ra khỏi nhà. Người Mẹ ấy đã khóc lóc van xin tội nghiệp, nhưng đồ đạc quần áo đã bị liệng tung ra trước sân nhà rồi, chịu thôi. Một hành động hèn hạ tàn nhẫn rất thông thường của chế độ Bắc-cộng trị sau năm 1975.

‘324’ là một khu cư xá trang trọng, đẹp và yên tĩnh. Trước đây là một khu nhà do ông Phan văn Đáng –một tay kinh tài Việt cộng (gọi là: ‘tư sản dân tộc’) xây dựng nên. Sau 1975, ông Đán này sáng mắt trước chế độ mới, uất hận. Tôi nghe có nguồn tin nói sau đó ông ta tự tử chết. Mỗi lần tôi chạy xe Honda ra khỏi nhà (căn số 18) là phải chạy qua trước mặt nhà của Nguyễn thành Trung, tôi thấy hắn có khuôn mặt bèn bẹt, mập ú trông khó ưa, nên tôi không bao giờ chào hỏi hắn, dù chỉ là cái gật đầu. Vì vậy, tôi chỉ nhớ khuôn mặt hắn một cách mường tượng, không rõ nét. Riêng mụ vợ hắn là một ‘con mẹ’ Nam kỳ, trông vừa nhà quê, vừa ‘mất dạy’. Mất dạy vì bà ta ăn không rảnh rỗi ngồi lê đôi mách, đi tìm bươi móc các gia đình nhà người khác, nếu có gia đình nào thuộc diện “ngụy” nặng hay tỏ ra bất mãn, chống đối chính quyền địa phương là sẽ đi báo cáo với công an. Cách nhà của Nguyễn thành Trung mấy căn, có bà vợ của ông Lành (họ Phan/ Võ?) -một sĩ quan cấp đại úy làm an ninh phi trường Tân sơn Nhứt (dưới quyền của Lưu kim Cương thì phải). Mấy ngày biến động dồn dập trước 1975, ông Lành này vì tham lam, đi về Đà Nẵng buôn lậu và thu tóm của cải không may chết mất xác ngoài đó. Bà Lành này và vợ Nguyễn thành Trung hay se sua đôi mách chuyện nhà người khác với nhau, nên rất hợp ‘gu’ và thân tình. Một phường-yêu-quái sản sinh sau ngày Bắc Việt đô hộ dân Nam.

Như đã nói, tôi kể chuyện có gặp một thằng đàn ông có khuôn mặt ‘bèn bẹt’ giống thằng Nguyễn thành Trung cho TMQ. nghe chơi, nhưng với sự dè dặt và nhấn mạnh có thể tôi nhầm. Tôi chỉ phối hợp sự kiện và nguồn tin được đưa ra trên web của ngài giáo sư Trần hữu Dũng cho biết thằng Nguyễn thành Trung –kẻ trước đây đã lái Boeing đưa Lê đức Anh lần đầu tiên ghé Mỹ, đang đến Mỹ dự huấn nghiệp phi hành trong 10 ngày để trở về lái thuê chiếc phản lực riêng của thằng 'tử sản đỏ' Hoàng-Anh Gia-Rai ở Kontum. Không dè vài hôm sau trên diễn đàn Phố Nắng tung tin ‘thằng Lý Tống gặp gỡ với thằng VC Nguyễn thành Trung tại nhà thằng Hà trọng Đoan’. Tôi giật mình, đã nói là tôi có thể nhầm, vả lại điều đó nếu là sự thật thì cũng không có gì quan trọng cả. Nghĩ thêm, mới hiểu ông TMQ. này muốn lấy một thông tin để ‘trả đũa’ tay Lý Tống. Như vậy, thì cũng hơi ‘non đòn’ rồi. Lẽ ra, muốn tìm hiểu mục tiêu của âm mưu phải vận dụng một lôgic xa hơn: Nếu sự có mặt của Nguyễn thành Trung tại nhà Hà trọng Đoan (+ Lý Tống + nhân vật…) hôm đó là đúng thì phải nắm vững yếu tố tại sao có sự góp mặt đó. Trên thực tế, xác định mối quan hệ giữa Hà trọng Đoan (đệ tử của Cao thế Dung –người mà ông Lê trọng Văn từng ‘dập’ là ‘con thò lò chính trị’, ‘con thò lò’ Cần Lao, tiến sĩ CETA (chương trình huấn nghệ: Center for Employment Training Act) v.v… với sự chế nhạo) và các nhân vật kia. Chắc chắn Cộng sản không bao giờ “ưa” hay chấp nhận những nhân vật như Cao thế Dung, dù cho ông mang nhãn hiệu là Quốc Dân Đảng hay Duy Dân, Dân Duy gì đi nữa. Còn nhân vật Nguyễn lập Đông chỉ là tay ‘ké nhóm’, không thành vấn đề. Hai người đàn ông lạ mặt, ít nói kia mới là vấn đề!

Giả dụ “dữ kiện” Nguyễn thành Trung không đúng sự thật, thì tại sao có bản tin từ trong nước post lên diễn đàn của Trần hữu Dũng vào đúng một ngày sau đó? Có âm mưu nào liên hệ từ nhóm của Trần hữu Dũng (một khuôn mặt mà cộng đồng hải ngoại đã quá rõ những hành tung của họ) + nhóm Cao thế Dung + nhóm thân-Hà-Nội ở Mỹ?. Các sự kiện liên hệ nói trên nhằm vào âm mưu, mục đích gì? Tại sao xảy ra trong lúc này, tại sao người được mời mọc là tôi? Hơn 10 năm qua, tôi không hề gặp gỡ hay quan hệ gì với họ? Sự có mặt của Lý Tống là thế nào? Đồng thời, phải duyệt xét lại các ý đồ giữa anh-em-cùng-cha-khác-mẹ Lý Tống-Lê xuân Nhuận (vợ ông Lê xuân Nhuận có quan hệ ruột thịt với ông Lê văn Hảo –người đã tự thanh minh một cách tội nghiệp về biến cố tàn sát Mậu Thân Huế, nhưng không hề được để yên.) Nếu, nguồn tin “Nguyễn thành Trung đến Mỹ…để được huấn nghiệp bố túc về phi hành” chỉ là tin phịa, thế thì tại sao lại được Trần hữu Dũng, (đồng thời nối kết mối quan hệ của Dũng với nhóm Nguyễn ngọc Giao ở Pháp) có sự phối hợp trong-ngoài nào không? , có âm mưu của cánh Cộng sản phía Nam-thân Trung cộng hay không? Hay tất cả chỉ là sự tình cờ?.

Chính vì vậy, khi gặp cái mặt ‘bèn bẹt’ Truơng hồng Hải tại nhà của “sư” Thích Pháp Hiền-tự Phan tấn Hùng-Đỗ Thuận Khiêm, thì tôi liên tưởng ngay tới nhân vật ‘bèn bẹt’ giống tên Nguyễn thanh Trung’ tại nhà Hà trọng Đoan tối hôm đó.
Trú ngụ trong căn mobilehome của sư Pháp Hiền chưa tới một tuần, tôi âm thầm tìm cách thoát đi ra khỏi nơi này tức thì. Anh ta là một mẫu người quái dị, dơ dáy, hôi hám, một cái áo một cái quần mặc suốt tháng không thay, không giặt, suốt ngày mượn phim Tàu về đặt vào cái desktop và chúi mắt vào từ sáng tới khuya ngoài giờ ăn và ‘phách tấu’. “Sư” nói là “sư” phải nghiên cứu lại cách đối thoại tiếng Việt các miền trong nước để khi trở về không bị bỡ ngỡ. Thỉnh thoảng tôi thấy trong cầu tiêu đầy cứt của ai đó vừa đi nhưng để vậy không dội nước. Và, "sự cố" đó xảy ra nhiều lần. Tôi chợt nghĩ, ông này không đúng nghĩa là “Sư hổ mang”, phải gọi là “Sư súc sinh” mới phải. Thêm một kinh nghiệm không phai mờ của tôi về ‘cái đầu trọc’ và ‘chiếc áo nâu sòng’ –hai thứ ấy không thể làm nên một vị Tăng Phật Giáo đúng nghĩa được. Và giờ đây, Mặt Trận Tổ quốc của Đảng CSVN lại muốn đồng-hành-với-dân-tộc theo kiểu xây dựng một đội ngũ Tăng-tương-tự !?.

* * *

Vào cuối năm 2005, có lần Trần tiễn Huyến (hắn từng đứng tên Chủ tịch của Non-profit Organization, Từ thiện Phật Giáo Giao Điểm) mời tôi và một nhóm đi ăn ở quán Kiên Giang trên đường Monterey, San Jose (nhấn mạnh: Kiên Giang, quê hương của Nguyễn tấn Dũng đấy!) Buổi chiều hôm ấy, có mặt : tôi, Trần tiễn Huyến, Nguyễn thanh Giản, cụ già Đoàn Nhật (*), Phạm trọng Nhân, Phan mạnh Lương (tôi không nhớ chắc có ông này?). Như có sự dàn cảnh và tính toán trước, và bằng kỹ xảo không để cho người nghe kịp suy nghĩ, Huyến phóng ngay một câu hỏi nhắm vào tôi khi vừa bước ra khỏi xe:

“-Ai bắn thằng Toại?”

Trong giác quan thứ sáu vừa ánh lên một hào quang trong đầu, tôi phóng ra một câu trả lời cũng ngắn gọn không kém. Rõ ràng, Huyến không phải là loại “đối thủ” của tôi. Câu trả lời đó như thế nào cứ để yên đó. Huyến và những nhân chứng ấy có mặt ở đây, ngay tại thành phố San Jose này!! Hôm ấy, trong buổi ăn uống, Huyến ăn nói huyên thuyên rất ồn ào, phần lớn đề cập đến tên Nguyễn tấn Dũng và tường thuật những công trạng y giết anh Trần văn Bá và nhóm kháng chiến chống lại Hà Nội mà được làm Thủ tướng (phần lớn là kiến thức từ báo chợ -như ‘Thằng Mõ’ chẳng hạn.) (3)

Trong con người của Huyến mang nặng một bản chất Tàu-Minh-Hương, từ giòng họ của Trần tiễn Thành truyền lại. Chính ngay cụ già Trần trọng Phúc là chú của y, cũng đã kể cho tôi nghe nhiều về con người thật của Huyến với sự khinh bỉ người cháu mình.
Tôi tự nghĩ trong đầu mình, “Cả bọn hay thằng cha Huyến lưu manh này, nó muốn ‘dùng tôi’ để làm một săng-ta chính trị gì đây?" Tại sao hắn gài tôi vào câu hỏi đó mà không là người khác. Những người thân cật, gần gũi, đồng hành của Đoàn văn Toại như: Nguyễn hữu Liêm, cha con Đỗ hữu Tài (Đỗ Mậu lúc xảy ra biến cố (1989) vẫn còn sống), Vũ thế Ngọc; hay những tay đầy kinh nghiệm chính trị như : Đinh thạch Bích, Nguyễn văn Chức (kể cả Lê trọng Văn) và vân vân.. mà lại đi hỏi tôi. Trước khi Huyến hỏi tôi câu hỏi đó thì phe nhóm của y như : Phan mạnh Lương, Hồng Quang, Hồng Phấn…và bọn tình báo cộng sản ở Mỹ đã biết câu trả lời từ lâu rồi mà. Hay có phải vì Trần tiễn Huyến muốn lập công với Đảng (như việc đem Trần tiễn Khanh + website vệ tinh bão lụt + công trình viết software dịch Bộ Đại Tạng Kinh để chưng vào tủ kiếng “tổ quốc”, trình với “ôn Trí Quang” bản dịch Kinh Hoàng Sám (Huyến dịch) và đã nhờ tôi phổ biến lên website giaodiem.com từ lâu -làm món quà dâng “ôn”?). Vậy thì, tại sao họ lại đẩy tôi vào thế nạn nhân?

--Goddamn it! You guys son-of-a-bitch!

Đấy là hành vi gài bẫy lọc lừa và bẩn thỉu của một nhóm người đeo hàm Phật tử, một loại Phật tử Tàu-nô, nói đích danh là tập đoàn “Từ Thiện Phật Giáo Giao Điểm” của Phan mạnh Lương, Trần tiễn Huyến (hai kẻ nối tiếp nhau làm Chủ tịch), của (Bùi) Hồng Quang, và một nhóm bồi bút khác… mượn danh “từ thiện”, xin tiền, xin sữa Insure, xin thuốc Tây… của Tin Lành, nhưng lại ẩn danh để chống lại đạo Tin Lành (vì đạo Tin Lành là đạo của Đế quốc Mỹ!?).

* * *

Ngày tôi về Việt Nam cũng lại dính vào đường dây của nhóm người bẩn thỉu này: Mục đích gặp Minh Mẫn là để cho y tiền như lời đã hứa với Nhật Từ ở Mỹ, để rồi y “gài” tôi vào thế phải đối diện với Đại tá Công an Tôn giáo Vũ Thắng (người chỉ huy trực tiếp của MM), và bên cạnh đó lấp lánh bóng dáng của tên Thiếu tướng Trần Tư (Cục trưởng Cục Công an- An ninh Xã hội).

Rõ ràng đó là một tập đoàn tay sai của bọn Trung cộng qua Đảng CSVN, từ tổ chức Từ thiện ngoài nước cấu kết với trong nước -núp bóng dưới danh nghĩa hoạt động tư vấn pháp lý, như: Văn phòng Luật của Võ văn Quới – có những mắc xích với Thích Nhật Từ, Thích Chơn Quang, Chùa Hoàng Pháp (Hóc Môn), Phật Học Viện Phật Giáo ở đường Nguyễn Kiệm, Gò Vấp, Chùa Giác Ngộ, báo Giác Ngộ, báo Văn Hóa Phật Giáo, và nhóm ‘ACE’ từ Mỹ - qua tới Úc và vào trong nội địa Việt Nam.

Minh Mẫn kể với tôi, y đã bị tù tội gần 10 năm “vì lý do” trước đây là thư ký riêng của Hòa thượng Thích-Quảng-Độ-chống-nhà-nước, nên khi ra khỏi tù phải sống lây lất không có giấy tờ tùy thân. Thế mà, ngay tại Hà Nội thì lại được Đại tá Công an VT. cấp Hộ chiếu để có thể đi nước ngoài hoạt động “Phật sự” (ngay trước mắt tôi -khoe!). Phải chăng đó là chiến thuật “ẩn mình để hóa thân” của Công an tôn giáo VN? Phải chăng đó là một tập đoàn yêu nước, thương dân, “bảo vệ đạo Pháp và Dân tộc”?

Theo bức điện thư mà sư C.L., C.K. và anh S. Tân-Phú báo cho tôi biết là MM đã hại tôi vào tháng 10/2008 khi tôi đã về Mỹ, là do nguyên cớ thế này : Một hôm, Minh Mẫn hẹn hò tôi, sư CL., sư CK. đi Củ Chi (vùng đất ‘thép’ của Việt Cộng, đa số dân định cư từ vùng Nam-Ngãi) ở một khu rừng cây thư giãn (ngày xưa có thể là chiến khu, hầm bí mật) có những chòi lợp lá kín đáo cho những cô cậu nào thuê vào ‘tươi mát’ thân xác. Sau khi dàn xếp mọi chuyện, MM giả vờ để quên cái cell-phone trên võng nằm, nhưng có lẽ đã mở nút thu âm bỏ đi đâu đó để khỏi phải nghe câu chuyện. Tôi trao đổi thẳng thắn với anh S. Tân-Phú, sau khi được anh ấy đề cập:

--Một, bàn chuyện về Ngô đình Nhu: Tôi nói rằng ông Nhu là tay yêu nước. Hành động chính trị đi đêm để thỏa hiệp với Cộng sản Bắc Việt trong thời gian đó là đúng nếu ông thật tâm làm như vậy để chuẩn bị một hiệp thương chính trị, thay vì phải đi vào con đường chém giết nhau vô ích (và nếu như Hồ chí Minh không phải là tay quỷ quyệt chính trị mà cùng đồng lòng yêu nước.) Tôi nói tiếp, ‘... nếu sự hiệp thương chính trị đó xảy ra, các anh cũng có thể thấy được viễn cảnh chính trị là –dân ai ở đâu, cứ ở nơi đó. Dân miền Bắc ở yên ở phía Bắc, ai dân Nam đã tập kết ra Bắc thì trở về quê quán, không gây ra những xáo trộn xã hội-đời sống đưa tới những thù hận, bất mãn giữa người dân với nhau như trong hoàn cảnh hiện tại. Các anh không thấy điều đó sao?’ Những suy nghiệm của tôi từ những hiểu biết hoàn toàn sách vỡ, từ giác quan thứ sáu, từ tâm lòng… Tôi nghĩ với tâm chất của Ngô Đình Nhu, nếu ông ta không phải là tín đồ đạo Công Giáo, ông có thể dễ dàng chấp nhận Chủ nghĩa Cộng sản lắm! Nói chung, đó là những nhận xét, ý kiến chủ quan, thành thật của tôi.

--Chuyện thứ hai là về ông Đoàn văn Toại : Tôi không thân với ông Toại, chỉ gặp ông ấy đôi ba lần, qua những nhân vật như Nguyễn hữu Liêm, Lê hiếu Liêm, Nguyễn công Hoan. Thỉnh thoảng tôi gặp Thái quang Trung và bộ phận tháp tùng –nhưng tầm cỡ của họ cao hơn nhóm Hoan-Tảng-Toại. Dĩ nhiên là ông Toại có liên hệ đặc biệt với Nguyễn công Hoan (cựu dân biểu VNCH kiêm luôn cả dân biểu Việt cộng sau này) (4) , Vũ thế Ngọc; còn những liên hệ của Toại với cha con Đỗ Mậu, Đỗ hữu Tài.. ở miền Nam California như thế nào thì tôi không rõ.) Tôi nói tiếp với anh S. Tân-Phú: ‘Như hoàn cảnh của anh là một người đi theo cách mạng nhưng bây giờ bất mãn chế độ này (thế hệ anh S.Tân Phú ngang ngữa với Phan chánh Trực, Trương tấn Sang v.v.), và chính anh đã chứng kiến những cảnh giành dựt quyền lợi, chức tước, nhà cửa cơ ngơi giữa bọn cán bộ Bắc với nhau ở miền Nam (có khi đổ máu hoặc chơi nhau rất hèn), hay giữa người miền Bắc và người Nam… anh đã gọi bọn họ là những kẻ bẩn thĩu, đê tiện không chịu được. Huống hồ là những hoàn cảnh khổ đau của quân nhân viên chức của chế độ cũ từ những hành hạ, hủy hoại dần mòn thân xác khi còn ở trong trại tù học tập cải tạo cho đến khi được về nhà… chỉ còn biết hy vọng, chờ đợi một ngày nào đó được ra đi đến miền đất tự do. Ra đi cho chính họ và còn cứu vớt thêm cả tương lai của vợ con nữa. Đó là niềm hy vọng cuối cùng để sống. Thế mà, nhóm của ông Toại lại tổ chức ra mắt rềnh rang ở Hoa Thịnh Đốn, in báo, phổ biến thông tin trong cộng đồng lại còn dựa vào một vài nhân vật nào đó đề xuất dự án lên Quốc hội Mỹ, thay vì để cho các người tù cải tạo và gia đình vợ con họ sang Mỹ -là một gánh nặng cho chính phủ Mỹ, vì đa số họ những người đau yếu và bệnh tật… , thì nên cho mỗi người tù cải tạo một số tiền là 5 ngàn (hoặc 3 ngàn đô Mỹ?) để họ có một số vốn nhỏ làm ăn sinh sống. Đó là một đề án vô lương tâm, quỷ quyệt. Tôi cho rằng đó cũng là âm mưu đàng sau của Đảng Cộng sản nữa (lúc ấy đang bí mật thương thảo để bang giao với Mỹ), họ (Cộng sản) tiên liệu viễn cảnh gia đình vợ con những người tù cải tạo khi sang đất tự do rồi, họ sẽ trở thành một lực lượng quần chúng đấu tranh chống lại chế độ Cộng sản. Và, như hiện tại các anh đã thấy, những gia đình H.O. đi qua Mỹ, hay các nước Âu châu.. đã chứng minh ngược lại. Đa số họ đã ổn định nếp sống dễ dàng, và nhất là các con cái họ đều là những người thành công về đường học vấn và nghề nghiệp. Mặt khác, sự tiên liệu của Cộng sản cũng đúng luôn trên mặt trận chính trị hiện nay, chính lực lượng những người tù cải tạo ở nước ngoài là thành phần đã chống lại chế độ Cộng sản có hiệu quả, và hơn thế -họ đã chiếm được cảm tình cũng như hậu thuẫn của các chính khách và cộng đồng bản xứ. Họ không hề là gánh nặng của bất cứ chính phủ ở Tây Phương nào cả, mà còn đóng góp nhiều trong đời sống xã hội-văn hóa, thuế má cho các quốc gia sở tại. Như vậy, nhờ hành động bạo hành ông Toại, đã phá vỡ luôn mưu đồ độc ác của ai đó, (mà chắc chắn đàng sau là có cộng sản giật dây, điều động.) Theo ý kiến của tôi, ông Toại là người “hiền” thôi, nhưng phải có kẻ độc ác, mưu hiểm nào đó đứng đang sau lèo lái… Cho nên, cả cộng đồng người Việt là nạn nhân của Cộng sản ở ngoài này không ai chấp nhận, tiếc thương gì ông Toại (kể cả việc ông ấy chết !); vô hình chung những kẻ bạo hành kia chính là “đại ân nhân” , là những anh hùng của người tù cải tạo dưới chế độ Cộng sản đang sống ở nước ngoài.

Sau khi nghe xong ý kiến của tôi, anh S. Tân-Phú, thầy C.K. im lặng… như chia sẻ và đồng tình, cũng đúng là lúc ông Minh Mẫn đi đâu đó, trở lại bên chiếc cell-phone!!!
Thế mà ở ngoài này, vẫn còn có những con rắn độc thò lò đuôi phục vụ Cộng sản, vẫn cố tìm cách gài tôi vào thế phải “tố cáo”? (tố cáo ai? hay là muốn tố cáo tôi?). Đó chính là hành động của “một phần tử” Phật Giáo thân Trung Cộng, bẩn thĩu gian manh, ngụy trang kinh kệ, tụng kinh gỏ mõ nhưng lòng dạ như những bày lang sói. Chúng không phải là người Việt Nam, chúng là phân tử có liên hệ huyết thống với Tàu Cộng. Tôi thách thức và chờ đợi họ.

nguyễn văn hóa

Vài phụ chú:
(1) Theo bài báo “Chiến Dịch Hoa Hồng Đỏ Hải Ngoại của CSVN” của Hoàng Văn Trác đăng trên Ngày nay, số 160, 01/6/1988 :
“… Sau khi thi hành bản án tử hình Đinh Bá Thi tại Phan Thiết, Bộ Chính trị đảng CSVN tại Hà Nội đưa tên đại tá có nhiều kinh nghiệm về tình báo và khuynh đảo là Hà Văn Lâu, sang nắm trọn guồng máy tình báo nước ngoài tại Liên-Hiệp-Quốc. Đi theo phụ tá cho Hà Văn Lâu là Nguyễn Ngọc Dung, nữ Trung tá, nguyên chỉ huy trưởng tình báo và phản gián quân khu 7 của Trung tướng CS Trần Văn Trà.
Mới đây, Hà Văn Lâu còn được tăng cường thêm một tình báo cỡ gộc nữa, đó là Phạm Ngọc Ẩn. Bộ máy tình báo và khuynh đảo của Hà Văn Lâu được đặt trực tiếp dưới quyền điều khiển của Bộ Chính trị tại Hà Nội, thay vì thuộc Bộ Ngoại giao của họ…”
Đó là một nguồn thông tin khá chính xác, nhưng đã mất thời gian tính. Ông Hà Văn Lâu, gốc người Huế-Sịa đã chết, vai trò của “Bà Dung” (nữ trung tá Nguyễn Ngọc Dung Tình báo CS) có thể đã thay đổi. Trong vòng 20 năm qua, có rất nhiều biến động về đường lối trong nội bộ của Đảng CSVN, đưa tới việc thanh trừng nhiều cán bộ đảng viên cao cấp. Tựu trung là biến động có tính chiến lược trong vị thế của Đảng CSVN trước sự sụp đỗ của Đảng cầm quyền CS Nga, sự tồn tại và tiến tới vai trò đế quốc bành trướng của Đảng CS Trung Hoa; dẫn tới một biến tướng về nhân sự, đường hướng và cơ cấu lãnh đạo của Đảng CSVN –từ đối nội đến đối ngoại. Ta có thể liên hệ tới vụ giết Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai và vân vân… đến những tranh chấp nhỏ ngầm ngầm giữa tờ báo Tuổi Trẻ và Thanh Niên (trước đây do Nguyễn công Khế, gốc Nam-Ngãi cầm đầu). Qua sự tìm hiểu của tôi, Khế bị dư luận ở Sài Gòn đánh giá rất thấp về khả năng và tư cách, lại được trung ương (qua Mặt Trận Tổ Quốc) cất nhắc và sử dụng cho mục tiêu lâu dài. Nhưng hiện tại, Khế đã bị thay thế.
Trong vòng 5 năm trước, nếu thật sự ‘sư’ PH là người được “bà Dung” gởi qua hoạt động ở Mỹ thì vai trò của ông này hiện nay có thể đã hoàn toàn vô dụng, nên ‘sư’ phải rơi vào hoàn cảnh sống vất va vất vưỡng như kẻ ăn mày, đâm ra nói xấu và tố cáo luôn cả ông “bổn sư” (Thiện Châu) ngày trước của mình.

(2) Theo lời của ĐHT, TVT có người anh là Đại tá Công an (Bắc Việt), sau 4 năm có thể đã lên hàm tướng. Chính sách của Đảng Cộng sản vẫn rất dè dặt (không tin) với những người con của ông Đỗ Mậu. Theo nguồn tin trong nước: website giaodiemonline.com, hiện do hai anh em ĐHT và Đỗ hữu Chí 'cầm lái' (để lập công với MTTQ) - ông Minh Mẫn cho biết thêm: hiện văn phòng làm việc của họ đặt tại trụ sở văn phòng Luật của Võ văn Quới ở đường Nguyễn trọng Tuyển, Phú Nhuận. Tôi không tin điều đó và không hề quan tâm. Tuy nhiên, những người đấu tranh cho dân chủ nếu biết theo dõi nội dung những websites-liên-kết của họ thì có thể hiểu được đường lối của Cộng sản. Khi chính sách Đảng CS HN đi đêm-liên kết với Mỹ, thì sẽ tìm thấy "không khí" chửi Mỹ, chống Mỹ, chống Cộng Giáo/Tin Lành/Phật Giáo TN dữ dội... khi Đảng liên minh với Trung Cộng thì họ thúc thủ và dè dặt hơn. Đó là một đặc điểm!.

(3) Câu chuyện về Nguyễn tấn Dũng và công trạng phá vỡ tổ chức kháng chiến chống Cộng của Lê quốc Túy &à Trần văn Bá của Huyến có hàm ý: Nếu ai đó mà làm được công tác như Dũng, thì cũng sẽ được làm Thủ tướng -thí dụ như "tố cáo" hay đập tan ‘bọn’ Mặt trận Hoàng cơ Minh.v.v.., chẳng hạn.
Một thời gian ngắn sau bữa ăn tối này, thái độ của Phan mạnh Lương thay đổi rõ rệt, tinh thần ông ta tỏ ra đầy lạc quan, đắc chí…Trong những lần từ miền Nam California lên San Jose, y thường gạ gẫm tôi đi thăm vợ chồng ‘cụ già’ Đoàn Nhật. Cụ già Nhật này, trong 10 năm trước vốn chưa từng quen biết với tôi, cũng mời tôi đến nhà dùng cơm, hỏi han nhiều chuyện trong đó cụ trao đỗi với tôi về ý định dịch cuốn “The Tao of Physics” của Capra Fritoff. Cụ Nhật cho biết ông là người cùng quê với Đỗ Mười ở ngoài Bắc, cụ nói: “ĐM là thằng hoạn lợn, học hành chưa xong bậc tiểu học, gia nhập đảng cộng sản và rất ác, y từng bắn giết người rồi thả trôi sông…”
Một thời gian sau, tôi thấy xuất hiện bản dịch “Đạo Vật Lý” do Đoàn Nhật dịch, từ trong nước mang ra. Như vậy, ở Việt Nam hiện nay có hai (?) bản dịch “The Tao of Physics”, bản thứ hai là của Nguyễn tường Bách.

(4) Gia đình bên vợ của Nguyễn công Hoan có liên hệ ruột thịt với bà Cao ngọc Phượng (tức sư bà Chân Không). Tôi nghe nói, cơ sở in ấn ở San Jose (business vẫn còn hoạt động?) là do sự tài trợ từ ngân sách của Thiền sư Nhất Hạnh. Theo suy nghĩ của riêng tôi, tôi biết có một số người thân chế độ Hà Nội ở nước ngoài không ưa thầy Nhất Hạnh, sau lưng vẫn tung tin “xấu” về đời riêng của Sư – vậy mà không hiểu tại sao Sư Nhất Hạnh chấp nhận điều kiện của chế độ Hà Nội quá dễ dàng, trở về nước “giải oan” rồi lại liên tục bị "hàm oan". Tôi hoàn toàn không biết những chuyện đàng sau hậu trường.

…Để tưởng niệm nhà biên khảo Trần Đông Phong

PHÂN ƯU
Được tin nhà biên khảo TRẦN ĐÔNG PHONG (tức giáo sư Trần Đức Thắng) vừa đột ngột từ giã thế gian vào lúc 6:30 PM ngày 24/12/2009 tại Orange County, California vì trọng bệnh.
Chúng tôi thành kính chia buồn với Bà quả phụ Ngọc Minh và Tang quyến.
Cầu xin hương linh anh Trần Đông Phong sớm tiêu diêu nơi tiên cảnh.
__________________________________________________________

Nguyễn Văn Hóa & mạng lưới Hội Tụ

Trao đổi với nhà biên khảo Trần đông Phong
posted: 27.3.2007 | lần thứ 2 ngày 11/7/09

Nguyễn văn Hóa

Giữa trung tuần tháng 3, nhà biên khảo Trần đông Phong có điện thư liên lạc với tôi, đề cập đến vài vấn đề lịch sử, đồng thời nhờ tôi một việc là minh xác một chi tiết nhỏ liên quan đến cuốn sách “Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ở Huế” của tác giả Nguyễn đắc Xuân có đề cập đến cụ Bùi quang Chiêu, (tôi có viết một bài giới thiệu về cuốn sách nầy, đăng trên website giaodiem.com năm 2005.)

Được biết, ông Trần đông Phong ngoài tác giả cuốn “Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng”, (Nam Việt xuất bản năm 2006); ông còn là tác giả một số bài viết, nói chuyện, trả lời phỏng vấn do mạng lưới vietnamexodus của Tường Thắng thực hiện. Tôi có theo dõi mạng lưới vietnamexodus trong vòng hơn 2 năm trở lại, nên nắm được nội dung, tinh thần làm việc của một số tác giả xuất hiện trên mạng lưới này. Trần đông Phong là một trong số tác giả mà tôi “thích” qua cung cách trình bày vấn đề, nội dung đề tài lịch sử nêu ra, đặc biệt ở các giai đoạn trước 1945, phong trào Thanh niên Tiền phong, Mặt trận Việt Minh, Cộng sản Đệ tứ, cố Chủ tịch Hồ chí Minh, cố Tổng thống Ngô đình Diệm và một số nhân vật yêu nước đứng ở vị thế “độc lập”, trong đó có cố Kỹ sư Bùi quang Chiêu.

Trong hai bài trình bày một số dữ kiện lịch sử (oral history) về nhân vật Bùi quang Chiêu có liên quan đến Hồ chí Minh, do Tường Thắng phỏng vấn nhà biên khảo Trần Đông Phong đã đăng trên mạng lưới vietnamexodus.com.

Bây giờ, tôi xin trích đoạn hai lá thư nói trên.

Thư thứ nhất (giữa tháng 3/2007):

Thưa anh H.,
“………………………………………………
“Sau năm 1975, hơn 25 năm tôi không hề cầm bút, không hề viết một câu nào trên báo chí ở hải ngoại vì tôi nghĩ rằng thế hệ chúng ta bất tài, thế hệ chúng ta có tội đối với các thế hệ trẻ vì chúng ta đã không hoàn thành được nhiệm vụ bảo tồn và xây dựng được một cuộc sống tốt đẹp hơn cho con em chúng ta… Tôi nghĩ rằng đó là một mối nhục, nhục không phải vì thua trận mà nhục vì đã không làm tròn nhiệm vụ mà các bậc tiền nhân đã kỳ vọng ở thế hệ chúng ta, những người đã nhận được sự giáo dục đầy đủ do các thế hệ trước xây dựng nên cho chúng ta. Do đó, trong bao năm qua tôi đành câm lặng.

Cách đây mấy năm, một người bạn của tôi, một nhà văn, một nhà báo lão thành đã từng bị Việt Minh bắt giam năm 1945 ở Hà Nội, đã từng bị ở tù thời Ngô đình Diệm, đã từng bị Việt Cộng bỏ tù ở Chí Hòa gần 20 năm, từ trần tại Washington DC. Vì bị bệnh ung thư mắc phải trong những tháng tù đày. Trước khi mất, anh ấy bắt tôi hứa là phải viết lại những điều cần nói cho thế hệ sau trước khi không còn nói được nữa.
Tôi miễn cưỡng phải nhận lời người bạn cũng như là người thầy của tôi dù rằng sự hiểu biết của tôi chỉ không bằng một phần mười của ông ta. Tuy nhiên trong thâm tâm, khi viết trở lại, tôi tâm nguyện rằng sẽ viết những điều gần sự thật để các thế hệ sau nhờ đó mà tìm kiếm, sưu tầm thêm nữa để tìm cho ra Sự Thật.
Và gần đây một số bài viết của tôi xuất hiện, trong đó có cuốn sách xuất bản hồi năm 2006
.” (ngưng trích)

--Và, trích đoạn khác của điện thư thứ hai:

Anh H. thân mến,
“…………………………….
“Luật sư Dương văn Giáo mà tôi có đề cập đến trong bài nói về ông Bùi quang Chiêu, được người Nhật trao cho một số tài liệu của Mật Thám Pháp (Sécurité Féderal) sau ngày 9 tháng 3 năm 1975 trong đó có chuyện Trần văn Giàu của Cộng sản cộng tác với Mật thám Pháp. Ông Giáo một phần là người trí thức, một phần ông nghĩ rằng Cộng sản cũng là người yêu nước cho nên ông không thèm công bố chuyện này, do đó mà không ai biết gì về Trần văn Giàu để cho hắn ta làm Chủ tịch Lâm Ủy Hành Chánh Nam Bộ và trong chức vụ này hắn đã ra lệnh thủ tiêu hàng ngàn người trí thức Việt Nam trong đó có cả Luật sư Dương văn Giáo…

Tôi cũng muốn nhờ anh một chuyện: Tôi đọc trong Giao Điểm thấy anh có viết bài điểm sách về “Đi Tìm Dấu Tích Thời Thơ Ấu của Bác Hồ ở Huế” của Nguyễn đắc Xuân, nghe nói rằng ông Phó bảng Nguyễn sinh Huy có học với ông Bùi quang Chiêu tại trường Canh Nông ở Huế vào khoảng năm 1901 hay 1902 gì đó. Lúc ấy ông Nguyễn sinh Huy đang làm hành tẫu tại Bộ Hộ và ông Bùi quang Chiêu thì có dạy ở trường Canh Nông, không rõ chuyện này có đúng hay không, xin anh cho tôi biết. Tôi cũng có viết một bài về cụ Phó bảng Nguyễn sinh Huy và được nhiều người rất thích.
……………………………………………………………” (ngưng trích ngang đây)

Trên đây là hai trích đoạn trong hai lá thư của tác giả Trần đông Phong (xin viết tắt: TĐP). Đầu năm Đinh Hợi, tôi có đọc “Việt Nam Cộng Hòa 10 Ngày Cuối Cùng” của tác giả họ Trần mà tôi đã bộc lộ nhận xét đó là tác phẩm viết với sự “công tâm”, trong phần trao đổi với Amy Tan đăng tải trên mạng lưới giaodiem.us vừa qua.

Có nhiều người không xuất thân từ quá trình được đào tạo chuyên môn về sử học, nhưng viết về vấn đề lịch sử rất đứng đắn, đúng quy phạm về nghiên cứu sử, có giá trị…là nhờ ở sự công tâm; nhưng cũng có người được đào tạo với trình độ hậu đại học (cấp tiến sĩ) thì ngược lại. Trường hợp của tác giả Trần đông Phong là một. Như vậy, thành quả về khoa bảng chỉ là tiêu chuẩn, điều kiện quy ước có tính định chế để một cá nhân có thể hành nghề mô phạm về sử học thôi, không nhất thiết đòi hỏi cho những người có nổ lực, hoài bảo tự học hỏi để nghiên cứu và viết sử.

Giữa trung tuần tháng 3/07, tôi có nghe hai loạt bài “oral history” của nhà biên khảo Trần đông Phong đề cập tới nhân vật Bùi quang Chiêu –là người Kỹ sư đầu tiên của nước Việt đã gặp gỡ “chú Ba” (tức Hồ chí Minh sau này) trên chuyến tàu Latouche Tréville, xuất phát từ bến Nhà Rồng, Sài Gòn. Tôi rất thích thú. Làm sống lại giai đoạn lịch sử ở thời kỳ này, là việc làm hết sức ý nghĩa, mà tác giả TĐP lại có may mắn là được quen biết, tiếp xúc với cụ bà Henriette Bùi quang Chiêu (con gái út của cụ Bùi quang Chiêu), hiện còn sống ở Pháp, năm ngoái (2006) có tổ chức lễ sinh nhật đại thọ 100 tuổi của cụ. Với nhân chứng sống này (còn có thêm hình ảnh nữa) hùng hồn thách thức bất cứ sự hoài nghi, xuyên tạc đến từ bất cứ đâu.

Về hai nhân vật mà tác giả TĐP nêu ra là Dương văn Giáo (luật sư) và Bùi quang Chiêu thì trong tác phẩm của tác giả Trần ngươn Phiêu (bác sĩ), “Phan văn Hùm, thân thế và sự nghiệp, (Hải Mã xuất bản 2003)”, đã có nhắc đến khá chi tiết, nhất là về cái chết của họ là do nhóm Cộng sản Đệ tam chủ mưu. Tôi trích dẫn, “…Vài ngày sau 23 tháng 9, 1945 nhà giáo Nguyện thị Lợi phụ trách báo Tranh Đấu cũng bị thủ tiêu ở Cần Giuộc, Chợ Lớn. Cuộc khủng bố trắng, săn bắt, ám sát các nhân sĩ ái quốc có uy tín nhưng không thuộc Đảng Cộng sản từ đó đã xảy ra hằng ngày, bắt đầu từ Bùi quang Chiêu đến Hồ văn Ngà, Trần quang Vinh, Bác sĩ Hồ vĩnh Ký và vợ là Bác sĩ Nguyễn thị Sương (nguyên thủ lãnh Phụ nữ Tiền Phong) ..v.v… Nhà viết báo và cách mạng danh tiếng trong thời kỳ “Đông dương Đại hội”, Diệp văn Kỳ, khi biết rõ ý đồ của Trần văn Giàu, đã lánh mặt, mặc áo tu lên ở Tha La Xóm Đạo (Trảng Bàng) cũng bị bắt và sát hại trong đêm.” (sđd, trang 349). Và, trường hợp của Dương văn Giáo thì, “…Một nhân tài có tiếng tăm khác bị thanh toán là Luật sư Dương văn Giáo. Cái chết của ông Giáo có thể có liên can một phần nào đến cấp chỉ huy trực tiếp của ông Trấn (tức, Nguyễn văn Trấn, tác giả "Viết cho Mẹ và Quốc Hội” –ghi chú của NVH), là ông Trần văn Giàu, Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Nam bộ.” (dẫn như trên). (*)

Nhân vật Bùi quang Chiêu, ngược lại, trong tác phẩm: “Việt Nam 1920-1945: Cuộc cách mạng và phản cách mạng thời đô hộ thuộc địa” của Ngô Văn, do Chuông Rè xuất bản năm 2000 thì được đề cập rải rác khắp cuốn sách. Ngô Văn là một nhà biên khảo đệ tứ cộng sản (Tờ-rố-kít/Trotskist), dù không coi ông Bùi quang Chiêu như một “kẻ thù chính trị” nhưng đứng ở quan điểm ‘đấu tranh cách mạng’, đã nhìn nhân vật họ Bùi như người “ôn hòa”, chủ trương lập hiến để thỏa hiệp với thực dân Pháp, chủ trương “Pháp-Việt đề huề.” Chủ trương đó họ gọi là “dominion”. Ở đây, tôi có sự đồng thuận với ông Trần đông Phong về ngữ nghĩa và thực tiễn chính trị về từ “dominion” là hiểu theo tinh thần “political dominion”, chứ không phải là tôn giáo (religious dominion). Dominion, là thực thi quyền tự trị (self-governing nation, sovereignty), kiểm soát một cách hoàn hảo về chủ quyền (perfect control in right of ownership) của quốc gia nằm trong một khối thịnh vượng chung (commonwealth) dưới sự đứng đầu của một quốc gia mạnh hơn, chứ không có nghĩa là thỏa hiệp, nô lệ, đầu hàng thực dân. Tôi tin quan niệm về “lập hiến” của cụ Bùi quang Chiêu nằm trong ý nghĩa này.
Nhìn từ quan điểm lịch sử, nếu hai cụ Phan châu Trinh và Phan bội Châu, vốn có một số kinh nghiệm và kiến thức về Cộng sản quốc tế khi xuất dương hoạt động cách mạng ở nước ngoài, nên không chấp nhận đường lối bạo động và đấu tranh giai cấp, thì hẳn giải pháp của cụ Bùi quang Chiêu là thích hợp với thực tế chính trị nhất (realpolitik), phải phù hợp chứ không thể là đối nghịch với chủ trương của hai cụ Phan.

Theo tôi, nghiên cứu về đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần phải biết sự hình thành và phát triển của Cộng sản Đệ tam (Komintern) cho đến lúc nó tàn lụi. Sự hình thành và phát triển của Komintern bắt đầu từ năm 1919 (sau Đệ I Thế Chiến), do Lênin và Trotsky thành lập. Đặc biệt về tác phẩm, “Làm Gì?” (‘What is to Be Done?’ của Lênin viết năm 1902). Tác phẩm này quan trọng, vì trong đó Lênin vạch ra sự chỉ đạo [không chỉ dành riêng cho nước Nga mà cho cả thế giới, nhất là các nước nằm trong quỹ đạo của Kominter] chiến lược cách mạng cộng sản, hành động cách mạng thực tiễn, sách lược cách mạng bạo động để cướp chính quyền, vận động các tổ chức quần chúng để hỗ trợ cho đấu tranh giai cấp nhằm lật đổ chính quyền tư sản, xây dựng một chính quyền của giai cấp vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản v.v… Như vậy chúng ta cần nắm vững hệ thống nhất quán 7 Hội nghị Quốc tế của Đảng Cộng sản và Hội nghị sau cùng (thứ Tám) cho đến ngày giải thể tổ chức Cộng sản Đệ Tam Quốc tế do Stalin chủ động ( 15/5/1943) giữa Đệ II Thế Chiến. Đến thời điểm này thì Stalin muốn xây dựng một đế quốc cộng sản Đại Nga (Great Russian nation-state), và các nước chư hầu phải nằm trong quỹ đạo kiểm soát, chỉ đạo của họ. Tinh thần “anh em” quốc tế vô sản không còn nữa. Trong thời kỳ này, có những xung đột chính trị, thanh trừng đẫm máu của Đệ Tam đối với thành phần Đệ Tứ Cộng sản (do Trotsky thành lập và lãnh đạo từ năm 1938); do đó, sự thanh trừng đẫm máu này có dây xích liên hệ với các nước chư hầu, đặc biệt các quốc gia thuộc địa đang còn nằm dưới sự cai trị của thực dân mà đảng Cộng sản Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh là một biểu trưng nổi bật nhất trong thế giới cộng sản thời kỳ đó.

Nhưng, để nắm vững bối cảnh quốc tế về sự hình thành các phong trào cộng sản, thì phải trở về với nguồn gốc hình thành Quốc tế Cộng sản, từ Đệ Nhất Quốc tế Cộng sản đến Đệ nhị Quốc tế Cộng sản. Phong trào xét lại sau Đệ nhị Quốc tế. Cơn ác mộng sau Cách mạng Nga 1905 (mà các sử gia Hà-nội đã gọi là 'cuộc cách mạng dân chủ tư sản') đã có những tác động gì lên các phong trào Cộng sản. Từ sự thất bại của Đệ nhị Quốc tế đối diện với Thế chiến Thứ nhất, cho đến sự hình thành Đệ tam Quốc tế.

Từ đó, chúng ta sẽ nhìn thấy bản chất và sách lược của Cộng sản Quốc tế một cách cụ thể, không mơ hồ, hay bị những giao động (hoặc nhầm lẫn và đơn giản hóa giữa hai thế lực vô thần và hữu thần.) giữa mâu thuẫn của các tổ chức tôn giáo quốc tế và cộng sản quốc tế -nhiều khi làm cho các đảng phái cách mạng, chính trị đưa tới sự chống báng hay hùa theo (a tòng) một cách tai hại. Tôi nghĩ tinh thần của thành phần Cộng sản Đệ Tứ trong các nước thuộc địa nằm trong sự giao động này, cuối cùng đã bị Cộng sản Đệ tam thanh toán. Thảm họa này không chỉ xảy ra ở miền Nam Việt Nam từ trong các thập niên 1930, 40 mà ngay ở Huế cũng bị ở quy mô nhỏ hơn (về số người bị giết). Tôi nhớ tác giả Tuệ Chương Hoàng long Hải có đề cập đến thảm trạng tương tự đã xảy ra ở làng Sịa (cách Huế chừng 10, 15 (?) cây số) , thành phần Cộng sản Đệ Tam đã giết hại gần 200 người thuộc thành phần trí thức, có ăn học. Mặt khác, một số lớn thanh niên Huế vào thời kỳ đó cũng đã hăng say lên đường vào Nam theo tiếng gọi của Thanh niên Tiền phong... Cho nên, trong số người bị thanh trừng có thể bao gồm thành phần này. Ở miền Nam, theo tác giả Trần đông Phong thì, người chủ động thi hành các cuộc 'thanh toán đẫm máu' là do ông Trần văn Giàu (Cộng sản Đệ tam dưới sự lãnh đạo của Hồ chí Minh) và các thuộc cấp như Nguyễn văn Trấn.v.v.. đã thảm sát gần 2 ngàn người trí thức ở Nam bộ. Nói tóm lại, nạn nhân của Cộng sản Đệ tam không chỉ riêng thành phần Cộng sản Đệ tứ, mà đủ các thành phần trí thức khác –dù ở trong các tổ chức đảng phái cách mạng hay không, nhưng đi theo đường lối khác hoặc không theo Cộng sản Đệ tam, đều có thể bị thanh tóan. Các nạn nhân như Dương văn Giáo, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Tạ thu Thâu, Bùi quang Chiêu v.v…và hàng ngàn người khác chỉ là một trong những trường hợp điển hình.

Trở lại với câu hỏi của nhà biên khảo Trần đông Phong, tôi ghi lại một đoạn trong cuốn “Đi tìm dấu tích thời niên thiếu của bác Hồ ở Huế”, Nhà xb Văn Học, 2003, (xin viết tắt: ĐTDTTNT…) của nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn đắc Xuân đã đề cập đến nhân vật Bùi quang Chiêu như sau,

"Sau mấy chục năm tìm tòi nghiên cứu, căn cứ trên các hồi ức và tài liệu thành văn cùng thời, đến giờ này tôi đã có thể khẳng định rằng bà Hoàng thị Loan -thân mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mất ở Huế vào ngày 7.2.1901 trong lúc chồng bà là cụ Cử nhân nguyễn Sinh Sắc đang bận việc xây mộ cho song thân ông ở quê nhà Nghệ An.
“…Và, theo lời khai của Bùi quang Chiêu với Sở Mật Thám Sài Gòn (Mật văn số U.S.1, tài liệu số 19, ngày 21 tháng 9-1922) thì vào năm 1901 hay 1902 gì đó ông Nguyễn sinh Sắc có học về Canh Nông với kỹ sư Bùi quang Chiêu (1) ở trường Canh Nông Huế. Chính vì thế mà Bác đã tìm gặp Bùi quang Chiêu trên chuyến tàu hai người cùng sang Pháp năm 1911. Bùi quang Chiêu khai:

“…Nguyễn ái Quốc…vào cuối năm 1911, tôi đã đi với anh ta trên chuyến tàu thủy mà tôi đã quên tên. Anh ấy làm ở trên tàu. Anh ấy tìm tôi vì tôi là thầy dạy học của thân phụ anh ta ở trường nông nghiệp Huế năm 1901 hay 1902…” (AOM, SPCE, 364). Tôi rất quan tâm thông tin nầy nhưng chưa thể xác định được thời điểm cụ học nông nghiệp với Bùi quang Chiêu trước hay sau thời điểm cụ “vinh quy bái tổ” vào tháng 8.1901.”
Ở footnote (1) cùng trang, tác giả ghi thêm : “Bùi quang Chiêu (1873-1945), quê ở làng Đa Phước Hội, h. Mõ Cày, tỉnh Bến Tre. Đổ kỹ sư canh nông tại Pháp, về nước làm việc ở sở Canh nông và tằm tơ Châu Đốc, sau đó ra Huế dạy ở trường Canh nông.” (sđd, trang 90).

Trước khi trao đổi với nhà biên khảo Trần đông Phong, tôi muốn trình bày vắn tắt về quan điểm viết sử của riêng tôi. Như đã nói trên, người ta không cần phải được đào tạo chuyên môn về sử học mới có thể viết sử. Bởi, có nhiều điều kiện để một người có thể tự học hỏi nghiên cứu để viết sử; tuy nhiên, để đi làm một công việc nghiên cứu hay giảng dạy về sử ở bất cứ một trường đại học hay một học viện nghiên cứu nào đó cũng đòi hỏi người ấy phải được đào tạo theo hệ thống ‘academic’, nếu có chứng minh thêm các công trình như viết sách, viết báo về các đề tài lịch sử rồi càng tốt. Theo sự hiểu biết của tôi, nếu một học viện nghiên cứu nào đó cần thuê mướn một người chuyên ngành về sử, thường họ chỉ đòi hỏi người ấy có trình độ Cao học (graduated) về sử là đúng yêu cầu (qualified) rồi, có khi họ gọi chức vụ đó là “historian” (mình dịch là “sử gia” thì cũng hợp lý thôi, chứ chưa cần tới cấp tiến sĩ (Ph.D). Cấp tiến sĩ chỉ cần để “qualified” cho sự giảng dạy ở cấp đại học và cao học. Nếu họ mướn một người làm công việc nghiên cứu có tính cách sử thì họ gọi là “historical researcher.” Sở dĩ tôi nêu ra sự kiện này để thấy người Việt mình có khi cũng khó tánh, tôi thấy có người đủ một số tiêu chuẩn để gọi là “sử gia”, nhưng vì không thích cá nhân đó, họ bắt bẻ không chịu gọi là “sử gia” mà chỉ nên gọi là “nhà nghiên cứu sử” thôi. Ngược lại có những cuốn sử rất có giá trị lại không được nhìn nhận chỉ vì người viết không có học vị tiến sĩ sử học. Sự thiển cận trong vấn đề đặt cách gọi cho “chính danh” này xuất phát từ tinh thần trọng khoa bảng, mong cầu tước vị trong xã hội một cách quá đáng của người Việt. Nhìn vấn đề cao hơn, thì bởi nước mình chưa hề có một Viện Hàn Lâm đúng nghĩa. Có khi người ta đặt ra những cơ sở với danh xưng như : ‘Viện Sử học’, ‘Viện Khoa học…’ v.v… này kia cho nó “kêu” thôi, nhưng thực chất chỉ là để phục vụ cho mục tiêu tuyên truyền của chế độ. Và không may, hầu như một chế độ nào có một hệ thống chính trị độc tôn, thường hay bị nạn này.
Vậy nên, theo tôi, giá trị của một tác phẩm lịch sử tùy thuộc vào công trình nghiên cứu, tính khoa học, nổ lực được chứng minh trong những khám phá mới, phẩm chất và giá trị của nguồn sử dụng, phương pháp luận sử v.v… Nhưng, khuyết điểm của một tác phẩm sử được viết bởi một người không được đào tạo chuyên môn về sử học thường được dư luận tha thứ dễ hơn, trong khi một người được đào tạo khoa bảng về sử học thì ngược lại.

Tôi nhận xét, nhà nghiên cứu Nguyễn đắc Xuân thường ngay thẳng xác nhận trong một số bài báo mình là một “đảng viên Đảng Cộng sản”, điều đó gián tiếp xác nhận những công trình viết lách của ông “có thể” là sẽ phục vụ cho mục tiêu chính trị của Đảng Cộng sản VN, cho nên tôi thường không thắc mắc lắm về những sai sót, lệch lạc trong các cuốn sách của ông NĐX, nếu có. Trường hợp của cuốn “Đi Tìm Dấu Tích Thời Niên Thiếu của Bác Hồ ở Huế” không thể là một ngoại lệ (Xin mở ngoặc: “thời niên thiếu” chứ không phải “thời thơ ấu” như tác giả TĐP đã ghi !).

Tuy nhiên, nếu liên hệ nhân vật Bùi quang Chiêu mà tác giả Nguyễn đắc Xuân đã nêu trong cuốn sách nói trên với nội dung hai buổi phát thanh của nhà biên khảo TĐP trên mạng luới vietnamexodus, tôi thấy cần nói thêm vài ghi nhận trong cuốn sách ấy mà tôi chỉ giới thiệu đại cương trước đây.

Đi sâu vào trong ĐTDTTNT…, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều hạt sạn. Nhưng cần ghi nhận ưu điểm đầu tiên là tác giả NĐX đã “can đảm” (với sự khéo léo) nói thẳng các tác phẩm –do mục đích chính trị, hoặc vì lòng sùng bái lãnh tụ quá đáng, của Thanh Tịnh như “Đi từ giữa một mùa sen”, của Sơn Tùng : “Les Années de l’ Enfance de l’Oncle Ho à Hue” v.v…là “hư cấu” tiểu sử thời niên thiếu của ông Hồ chí Minh, và của Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Nghệ Tĩnh đã phô bày sự tạo dựng sai lạc. Đó là một “lịch sử” đầy mơ hồ, sự kiện mâu thuẫn, năm tháng trái ngược nhau, tông tích dễ lẫn lộn về một “vị lãnh tụ” của họ. Vì thế, tôi cho rằng cuốn ĐTDTTNT… của Nguyễn đắc Xuân đã làm một công việc “chữa cháy”. Tác phẩm thì “nhỏ” (dày chưng 250 trang), nhưng công việc thì lớn, vì theo lời tác giả đã bỏ ra trong hai thập niên để bổ sung, điều chỉnh có lẽ để cho mục đích “chữa cháy” hoàn hão hơn (theo ấn bản năm 2003.)

Hai “thành quả” khác (theo ghi nhận của tôi) là tác giả đã tìm ra được ngôi nhà ngày xưa hai mẹ con bà cụ Hoàng thị Loan (vợ của cụ Nguyễn sinh Sắc và bé sơ sinh Nguyễn sinh Xin) đã sống là ngôi nhà ở số 112 đường Mai thúc Loan, Thành nội, Huế; và quan trọng hơn là ông NĐX cố chứng minh trong lúc cụ bà Loan trong cơn bạo bệnh đã chết trong cô đơn, cơ hàn thì cụ Nguyễn sinh Sắc không có mặt ở Huế. Chính vì cái chết khổ đau này [lúc ấy cụ bà Loan hẳn còn trẻ, vì cụ bà lúc lấy chồng chỉ mới 13 tuổi, mà cụ ông Nguyễn sinh Sắc (năm 1901) còn là thanh niên sung sức (sinh năm 1863)] đối với dư luận của xã hội Việt Nam có thể đổ lỗi cho cụ ông là người chồng bất nghĩa, thiếu bổn phận làm chồng làm cha trong gia đình. Điều này đối với phong hóa xã hội Việt Nam đương thời rất coi trọng : “Tình phu phụ, nghĩa quân thân” (Truyện Hoa Tiên); hay: “Có âm dương, có vợ chồng. Làm người ai thoát khỏi vòng phu thê” (Gia huấn ca). Vậy thì trong cơn đau yếu, hoạn nạn của cụ bà, cụ Cử Sắc đang ở đâu? Hai đứa con trai theo cụ (là Sinh Khiêm và Sinh Cung ở đâu)? Nếu cụ không ở Bắc như vài tài liệu của Đảng CS nêu ra thì lúc ấy cụ đang ở làng Dương Nổ, thế tại sao cụ không thể có mặt lúc cụ bà mất? Tôi không dám thất lễ nghĩ, hay là cụ ông đang đắm chìm trong "tửu sắc" đâu đó mà quên đi vợ đang ốm đau và thui thủi một mình ở căn nhà đường Mai thúc Loan?. (**) Nhưng, trong phương pháp luận luận sử, điểm này không thể bỏ qua được. Vấn đề là có đủ dữ liệu "gần" với sự thật để chứng minh hay không!
Theo tác giả Vũ ngự Chiêu, thì:

--1984: Cụ Sắc đỗ cử nhân.
--1895: Thị Hội hỏng, xin “tọa Giám”, nhưng không dám quyết đoán cụ Nguyễn sinh Sắc và hai con trai vào Huế năm nào, đồng thời ông ghi nhận thêm trong các tài liệu của Cộng sản cũng không nói rõ năm nào luôn.
--1898: Cụ Sắc thi Hội lại hỏng lần nữa. Cụ Sắc làm nghề “kèm trẻ” ở nhà Nguyễn sĩ Độ ở làng Dương Nổ (có hai con là Khiêm (anh) và Cung (HCM) đi theo, còn cụ bà Loan và và con mới sinh tên là Nguyễn sinh Xin ở lại Hà Nội.
--1901 (đầu năm) Cụ bà Loan chết vì bạo bệnh, cụ Sắc bồng bế 3 con (có thêm Xin) về lại làng Hoàng Trù. Đứa con út (Sinh Xin) chết.
--1901, cụ Sắc đỗ thi Hội với chức Phó bảng.
--1904, được bổ làm chức quan nhỏ ở bộ Lễ , rồi sau đó làm Tri huyện ở Bình Khê, Bình Định.
--1910: cụ Sắc bị cách chức quan, vì say rượu và đánh một người (làm chánh tổng) vong mạng.
(“Việt Nam Nhân Vật Chí”, Vũ ngự Chiêu, Văn Hóa xb. 1997, trang 366, 367 ).

Theo Cao thế Dung trong “Việt Nam Huyết Lệ Sử”, Đồng Hướng xb. 1996, thì rõ hơn một chút nữa vì tác giả trích dẫn từ “Quốc Triều Đăng Khoa Lục” của cụ Cao xuân Dục:
-1901: (Cụ) Sắc đậu Phó Bảng đời Thành Thái thứ 13, cùng khoa với Phan châu Trinh.
Trong phần chú thích 18 (sách đd, trang 404), ông Cao thế Dung viết thêm: --“Theo tài liệu của Đảng CSVN,…. Sau khi nhạc phụ qua đời, ông Sắc về ở hẳn nhà vợ, làm nghề thầy đồ dạy học. Năm 1894, ông đậu Cử nhân, Thi hỏng khóa thi Hội năm 1895, ông vào Huế xin làm tọa Giám tức được lương ăn, theo học Quốc Tử Giám, chuẩn bị kỳ thi Hội năm 1898, nhưng mãi đến 1901 mới đậu Phó Bảng.” Ở chú thích 17, trang 403, Cao thế Dung ghi lại chú dẫn của Chính Đạo Vũ ngự Chiêu, viết rằng, “Không hiểu rõ Nguyễn tất Thành (tức Hồ chí Minh) học đến đâu nhưng chắc chắn ông không được vào học trường Quốc Học Huế. Mùa hè 1911, nghĩa là một năm sau, thân phụ bị cách chức Tri huyện vì “nghiện rượu và tàn ác với dân chúng” [theo hồ sơ của Pháp Archives Nationale, Carton 326, Dossier 2627… -in đậm là nhấn mạnh của nvh.]

Tựu trung, cụ Sắc và hai con vào Huế năm 1905, 1906, hay 19xx … không phải là vấn đề chính; vấn đề quan trọng hơn, Nguyễn tất Thành có được vào học trường Quốc Học không, và thời điểm cụ Sắc làm “thục sư” (từ ngữ của ông Nguyễn đắc Xuân, chỉ người kèm trẻ học) ở làng Dương Nổ, và lúc cụ bà Hoàng thị Loan chết ở căn nhà số 112 đường Mai thúc Loan (công lao khám phá của NĐX) cụ Sắc, hai con Khiêm và Cung ở đâu?
--Nhà biên khảo (đồng thời là giáo sư sử trước 1965) Nguyễn hữu Châu Phan cho rằng, “…Nguyễn sinh Cung cũng như nhiều anh em học sinh đóng vai trò chủ chốt trong việc thông ngôn giúp đồng bào đã phải lẫn tránh trước sự truy nã gay gắt của thực dân.” Nhưng rồi sau đó, Nguyễn sinh Cung đến trường (Quốc Học) học lại, và bị cò Pháp bắt ngay trong lớp học.” (Phong trào kháng thuế Thừa Thiên Huế Năm 1908, Nguyễn hữu Châu Phan, tập san Nghiên Cứu Huế số I, 1999, trang 33).

Sự kiện này (Nguyễn tất Thành có hteo học ở Quốc Học) được tác giả Nguyễn đắc Xuân nhắc lại với lời chú dẫn Pháp ngữ theo tài liệu của Tòa Khâm sứ Trung kỳ, ở Viện Bảo tàng Hồ chí Minh: “Personnement, Nguyễn Sinh Huy n’a jamais été suspecté pendant son séjour en An-nam. Il fut réprimandé en raison de la conduite de ces deux fils, alors élève au collège Quốc Học qui avaient tenu devant leur maîtres des propos anti-français à l’occasion des manifestations populaires en 1908.” (theo ĐTDTTNT.., NĐX, trang 174, --chữ đậm là do tôi (nvh) muốn nhấn mạnh.)

Ta có thể tạm chấp nhận ông Nguyễn sinh Cung (tức Nguyễn tất Thành, tức Hồ chí Minh) có theo học ở trường Quốc Học và vì bênh vực đồng bào tranh đấu chống thuế làm thông ngôn đối đáp với quan thực dân, rồi bị đuổi học. Vậy trong thời gian nầy, hai anh em Khiêm và Cung có lẽ đang ở làng Dương Nổ với cha là cụ Cử Sắc (từ 1908-1910). Ở đây, khi đọc ĐTDTTNT..., tôi nảy ra một thắc mắc: Theo NĐX qua cuộc phỏng vấn với ông Nghè Duyến (cháu hoặc con của ông Nguyễn sĩ Độ ?), kể:

"...Ông nội con rất trọng thầy (tức cụ Sắc) , không những ông giao nhà cho thầy ở, lo cho thầy và hai chú (tức hai anh em bác, Khiêm và Cung) ăn uống đầy đủ mà ông còn cử một bà o lo giặt giũ săn sóc cho gia đình thầy nữa.
"Từ ngày về nhà mình, thầy Sắc và hai chú rất thoải mái. Học trò trong làng minh và các làng chung quanh cơm đùm gạo bới đến xin thầy Sắc học rất đông..." (sđd, trang 71).

Thắc mắc của tôi: Cụ cử Sắc và hai con trai được sống trong hoàn cảnh thoải mái như thế này, tại sao cụ không đem cụ bà về sống chung để cho vợ chồng, con cái được đêm ngày sớm tối có nhau, cụ bà có cơ hội săn sóc cho chồng con chu đáo hơn; và hơn nữa thêm một "miệng" ăn thì đâu có khó khăn gì, mà cụ bà vốn tảo tần vẫn có nhiều cơ hội để tìm kiếm việc làm khác thay vì làm nghề dệt vải ở trong Thành nội !?. Nhưng theo khám phá của nhà nghiên cứu Nguyễn đắc Xuân ba tháng từ cuối năm 1910, cụ Sắc “…được triều đình cử làm giám khảo hai kỳ thi Hương ở Bình Định và Thanh Hóa. Trên đường về Huế, cụ ghé qua Vinh về làng quê ở làng Kim Liên để xây mộ cho song thân. Trong khi ở đó 3 tháng thì được tin vợ của ông từ trần ở Huế (ngày 17/2/1901), ông trở về Huế tức thì và gặp lại 2 con trai ở với mẹ chúng.” [Bà Nguyễn thị Thanh (chị của Nguyễn sinh Cung) khai với Mật thám Pháp, ĐTDTTNT.., trang 89; nhưng không thấy tác giả NĐX cho biết nguồn lấy từ đâu !? ].

Với dữ liệu này, cho thấy tác giả NĐX muốn chứng minh khi cụ bà Loan mất, cụ Nguyễn sinh Sắc không có mặt ở Huế, tức không có cơ hội để chứng kiến cảnh vợ hấp hối, từ trần và lo liệu việc tang lễ cho vợ sau đó. Vì thế nên, tác giả NĐX mới đưa vào dữ kiện cụ Bùi quang Chiêu đã khai với Mật thám Pháp là ông có gặp Nguyễn Ái Quốc vào năm 1911 trên chuyến tàu ông “đã quên tên” trên đường sang Pháp (đã dẫn chi tiết ở trên). Trong dữ liệu này có vài hạt sạn chúng ta cần nhặt ra:

+ Một, khó có thể tin một người có trình độ văn hóa cao (thời đó) như ông Bùi quang Chiêu đi trên một chuyến tàu sang Pháp với hải trình kéo dài cả tháng trời trên biển khơi mà ông không nhớ tên tàu khi khai với Mật thám Pháp?

+ Hai, cụ Nguyễn sinh Sắc đậu Phó Bảng năm 1901 (thi lần thứ 3), làm sao có thì giờ đâu để đi học thêm về nghề Canh nông với kỹ sư Bùi quang Chiêu? Trong thời điểm 1901, 1902, tôi không tin Pháp đã mở một trường Canh nông thực hành nào ở Huế, dù chỉ là cấp cán sự (ngang trình độ trung học đệ nhất cấp !) Ông Bùi quang Chiêu có thể đã từng giảng dạy về Canh nông ở Huế, nhưng theo tôi phải bắt đầu từ các thập niên 1910-1920… mới hợp lý. [Độc giả có thể tìm đọc thêm "Các Vua cuối triều Nguyễn", tập 2 của Vũ ngự Chiêu, dẫn theo tài liệu của CAOM (Aix) và G.G.I. trong mục "3. Giáo dục" từ trang 556...]

+ Có thể nào, tác giả NĐX đem dữ liệu về “lời khai với Mật thám Pháp” của cụ Bùi quang Chiêu vào đây như một chứng cớ lịch sử (historical evidence), nhằm vừa tạo thêm nghi vấn chồng lên sự kiện mới vừa để chứng minh trong thời gian cụ bà Loan mất, cụ Nguyễn sinh Sắc đang ở ngoài Bắc (dù tác giả "tin chắc", nhưng đối với giới nghiên cứu sử vẫn còn là giả thiết); đồng thời gián tiếp cho độc giả biết thêm cụ Bùi quang Chiêu (và đảng Lập hiến) có liên hệ với Mật thám Pháp? Nếu điều này đúng, thì có thể tác giả đã không hề biết ở hải ngoại trong nhiều năm qua, nhóm “đệ tứ” đã có những tài liệu lên án một cách hệ thống qua các tài liệu phổ biến về thủ đoạn tàn sát tập thể thành phần “CS đệ tứ” của đảng CSVN, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch HCM qua bàn tay sắt máu của các thuộc cấp như quý ông Trần văn Giàu và Nguyễn văn Trấn .v.v..? Và, cũng có thể ông NĐX không hề hay biết cụ Bùi quang Chiêu còn có một người con gái (là nữ bác sĩ đầu tiên của VN) còn sống sót đến ngày nay thọ 100 tuổi (năm 2006) là một "nhân chứng sống" như nhà biên khảo Trần đông Phong đã công bố?
Từ đó, chúng ta có thể tạm kết luận, chính từ hành động muốn “chữa cháy” về những hư cấu của các cán bộ văn hóa cộng sản trước đó về Hồ chí Minh, tác giả NĐX đã vô tình làm cho đám cháy lớn hơn nữa… nếu như chúng ta đi sâu vào những chi tiết, sẽ thấy sự kiện chồng chéo mâu thuẫn, làm cho những mắc xích lý ra là phải nối kết với một chuỗi sự kiện, đứt lìa ra.

Quan niệm của tôi về viết sử là phải biết phối hợp giữa phương pháp luận sử học (historical methodology) và phương pháp luận nghiên cứu (methodology of research). Nghiên cứu lịch sử là khảo sát về sự kiện, mà trong sự nối kết các sự kiện có thể hiển lộ (hoặc tiềm ẩn) một biến cố nào đó. Cho nên, khi khảo sát một biến cố còn có nghĩa là mỗ xẻ biến cố để đi vào từng sự kiện riêng lẻ. Mỗi biến cố là một vòng tròn nằm trong mắc xích của các sự kiện. Cái này sinh ra cái kia. Vậy có thể nói ngắn gọn, phương pháp luận sử học là khảo sát, phân tích, đối chiếu, suy luận về một chuỗi sự kiện lịch sử; trong khi phương pháp luận nghiên cứu là biết sử dụng các nguyên tắc khoa học để hỗ trợ (phương tiện) cho phương pháp luận sử học. Do đó, dù lịch sử không phải là một khoa học chính xác, nhưng ngôn ngữ lịch sử là ngôn ngữ của sự kiện, chứ không thể là ngôn ngữ trừu tượng của triết học, hay ngôn ngữ cảm thức của văn chương. Viết tiểu sử (biography) về một nhân vật lãnh đạo đã từ trần đã lâu trong một xã hội chiến tranh triền miên đã là vấn đề khó, huống gì viết về người lãnh tụ trong một chế độ chính trị nặng tuyên truyền, bưng bít là còn nhiêu khê hơn. Giả như tác giả Nguyễn đắc Xuân phác thảo (outline) trước một bảng điểm thời gian (time tables) từ lúc ông Hồ chí Minh sinh ra cho đến ngày làm bồi trên tàu Latouche Tréville của hãng Chargeurs Réunis, xuất dương --để liên hệ kết nối các sự kiện lại với nhau một cách lôgíc, thì sẽ tránh được sự chồng chéo sự kiện mâu thuẫn, đầu voi đuôi chuột. Nhưng đó cũng chỉ là cách giải quyết tạm thời trong một xã hội khép kín, trong một chế độ chính trị tự cô lập. Trong thời đại thông tin internet, sự sai lầm và che đậy sớm muộn cũng sẽ bị bày ra dưới ánh sáng mặt trời.
(Xin cám ơn nhà nghiên cứu Trần đông Phong (và ông Nguyễn đắc Xuân ký tặng tôi sách lúc gặp tôi ở Huế vào năm 2002) đã cho tôi cơ hội để chia sẻ quan điểm với quý vị.)

Tuesday, March 27, 2007
NVH.

Chú thích bổ sung:

(*) Tưởng cũng nên nhắc lại trong bài điểm sách cuốn "Viết cho Mẹ và Quốc Hội", Như Phong Lê văn Tiến đã nhắc lại lời kể của tác giả Nguyễn văn Trấn "...Ông cũng cho ta nghe lời người Chú tâm sự với một thằng Cháu là Phan văn Khải mà ngày hôm nay đang ngự chót vót trong Bộ Chính Trị..." Một giai thoại khá thú vị khác, Ông Trấn kể: "...hồi tháng Chín năm 1945 khi nghe tin Hồ chí Minh làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, bà con Nam Bộ hỏi nhau: "Hồ chí Minh là thừng cha nào!"... Vì cớ sự đó nên mới có chuyện khi ông "Hồ-hữu-khuynh" đi dự Hội nghị Fontainebleau, ông Bùi Lâm tiễn đưa đã ghé tai bảo nhỏ với bác, "Đi kỳ này đừng bán nước nhé!" (Phan văn Hùm, thân thế và sự nghiệp, Trần ngươn Phiêu, sđd, trang 393).

(**) Tác giả Nguyễn đắc Xuân trong footnote (1) trang 43, còn ghi lại một giai thoại "thục sư" của cụ Cử Sắc. Khi dùng từ ngữ "thục sư", hẳn tác giả NĐX muốn thi-vị-hóa nghề gõ đầu trẻ của cụ Sắc ("thục" có nghĩa là cái nhà nhỏ), thay vì dùng "gia sư", thầy kèm trẻ tại gia; nhưng "thục" còn có nghĩa là phụ nữ -"Cho hay thục nữ chí cao" -truyện Kiều. Bởi vậy, Thanh Tịnh mới kể rằng, "...Nguyễn sanh Huy đã từng là thầy dạy Hán tự ở nhà Bà Kí (chị cả của Dục Đức, cô ruột của vua Thành Thái -NĐX chú thích), phụ nữ ly hôn của Diệp văn Cương ở Sài Gòn. Nguyễn sanh Huy đã dạy học cho con trai ông này tên là Diệp văn Kỳ, hiện (1920) là nhà báo ở Sài Gòn. Nguyễn sanh Huy chỉ được nuôi ăn ở nhà bà Kiêm nhưng không lãnh 1 đồng lương nào." Ông Thanh Tịnh quả là đa sự, bởi qua giai thoại này lại làm cho hậu thế càng thêm thắc mắc, cụ 'sanh Huy' làm "thục sư" mà chỉ ăn ở nhà bà Kiêm thôi, không lãnh 1 đồng lương nào, thì hẳn là bà Kiêm phải mang ơn nghĩa nặng. Ông Diệp văn Cương về sau bị Việt Minh giết là chuyện cũng đành, thế nhưng cụ 'sanh Huy' ăn ở nhà bà Kiêm vào năm nào? Hai con trai cụ đang ở đâu? Chẳng lẽ trong một thời gian từ 1898 đến 1901 và trong mấy tháng ngắn ngủi của cuối năm 1900 (tháng 2/1901 cụ đổ Phó Bảng), mà cụ phải làm nhiều chuyện quá: được triều đình cử vô Bình Định, ra Thanh Hóa chấm thi Hương, ghé Nghệ An xây mộ cho song thân, là vừa kèm trẻ ở nhà cụ Sĩ Độ lẫn "ăn ở" nhà bà Kiêm, thì đúng cụ 'sanh Huy' là người thiên biến vạn hóa. Song, lại thêm một nghi vấn sử nữa: Thời gian cụ cử Sắc làm "thục sư", "ăn ở nhà bà Kiêm" là vào lúc nào? Trước khi, trong khi hay sau khi cụ bà Hoàng thị Loan bạo bệnh mà lìa trần??





H1.-cụ bà Henriette Bùi quang Chiêu (con gái ông BQC, 100 tuổi). Hình của vietnamexodusà

H2.-Hai ông Dương văn Giáo và Bùi quang Chiêu (phải) trên chuyến tàu xuất dương sang Pháp [nguồn: vietnamexodus]:


--Nghe Tường Thắng "phỏng vấn" nhà biên khảo Trần đông Phong:
Bấm lên hàng này để nghe lại phần 1 | Phần 2

In lại từ © copyright giaodiem.us | 2006

Saturday, January 23, 2010

Chữ "Nhẫn" của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp


Thursday, July 02, 2009

nguyễn văn hóa



Vào gần cuối năm 2005, tôi được ông Phan Mạnh Lương mời về Santa Ana để dự một cuộc họp với “nhóm Giao Điểm” tại nhà ông Đỗ hữu Tài. Buổi tối hôm ấy, tôi nhớ có mặt các nhân vật sau: các ông Hồng Quang, Mật Nghiêm ĐNP, Phan M.Lương, Đỗ H.Tài, sư Nhật Từ, Trần tiễn Huyến , có vài người em của ông T. mà tôi không quen và cũng không cần nhớ tên. Giữa buổi, tôi nhận được cú phôn từ đâu đó gọi tới của ông Đỗ hữu Chí (em ông Tài) hỏi thăm tôi vài câu vờ vĩnh, vớ vẫn… Tôi biết anh nầy có ý định muốn nhờ tôi điều gì đó nhưng còn ngại ngùng, không muốn nói thẳng. Gần cuối cuộc nói chuyện, trao đổi ý kiến với nhau, ông ĐHT. trao cho tôi một tấm hình chụp ĐT Võ Nguyên Giáp đang ngồi thiền định trong thế hoa sen. Ông T. nói tặng tôi và cho biết đó là tấm hình chụp ở tư gia của ĐT. Giáp có người mang từ VN qua. Tôi cầm tấm hình xem thật lâu, xúc cảm. Một ý tưởng nảy sinh trong đầu. Tấm hình này là cả một “công án thiền”, chứ không bình thường!. (1)

Một thời gian ngắn trước đó, trên website giaodiem.com bùng vỡ một cuộc tranh luận nội bộ, chung quy là bởi loạt bài về Điện Biên Phủ của tác giả Nguyên Vũ (Vũ Ngự Chiêu). Tôi có nghe dư luận nói, bố của ông Nguyên Vũ từng là đảng viên QDĐ bị Việt Minh giết. Tôi không quan tâm tới dư luận đó. Quyết định đăng loạt bài của ông NV về trận Điện Biên Phủ vì một số giá trị khách quan về nghiên cứu sử của ông, chứ không vì ý định chính trị xu thời thế nào đó của người viết (nếu có!) hay vì chủ trương của giaodiem.com. Dĩ nhiên, nội dung thiên biên khảo của NV. làm cho hình ảnh người anh hùng Điện Biên nhạt mầu đi, vì sự góp mặt chỉ đạo của các cố vấn quân sự do Mao Trạch Đông gởi sang, mà tài liệu của NV. không phải là nguồn duy nhất trong các sách sử tiếng Việt đã từng tiết lộ…

Người phản ứng đầu tiên và mạnh mẽ nhất là bài phản biện của ông Lê Trọng Văn. Mạnh đến nỗi trong nội dung bài viết mang theo các từ ngữ nặng lời… Tác giả NV. đối đáp một cách cay cú, có lẽ vì giận dữ bởi một số từ ngữ của ông LTV. Rồi, ông Trần Chung Ngọc tham gia phản biện, mặc dầu khéo léo nhưng độc giả vẫn thấy được quan điểm ông bênh vực cho ai. Còn có một tác giả khác trong nước tham dự để bênh vực cho ĐT. Giáp. Công bằng mà nói, bài viết của ông LTV. thiếu cân lượng, chưa đủ trình độ để phản bác quan điểm sử của VNC, điều đó làm cho tôi thất vọng là không thể giữ cho website giaodiem.com được nổi bật là một diễn đàn công luận, để cuối cùng trong vai trò tổng luận tôi có thể bênh vực một cách nhẹ nhàng nhưng hợp lý một vị tướng anh hùng dân tộc đã thắng được “thằng Tây”. Ngoài điều đó ra, không thể che dấu cảm tình thiên vị “địa-phương-tính”, vì tướng Giáp xuất thân từ Quảng Bình (làng An Xá, huyện Lệ Thủy) cùng quê với các ông nội, ông cố tôi. Hơn thế nữa, có một giai thoại là tôi có ông bác tên Tự (đã chết) là người yêu của bà Võ thị Lành (em gái của tướng Giáp), đã từng sống chung với nhau như vợ chồng, nhưng hôn nhân không thành vì bên phía gia đình của cố tôi (ông nội anh) chê là không ‘môn đăng hộ đối’, vì gia đình bà Lành nghèo khổ. Giai thoại nầy, tôi đã được xác nhận nhiều lần với anh mình, với các người anh chú bác (như anh R. ở VN, các anh Đ., U. ở Texas...) càng làm cho tôi thương cảm về gia thế của ông hơn. Có gốc gác tổ tiên của người Việt nào mà không nghèo nàn, không xuất thân từ đồng ruộng!? Tổ tiên khởi thủy của người Việt là một anh chăn trâu, biết cày bừa, cấy mạ… (2)

Trong thời điểm đó, dù chênh lệch về thời gian, nhưng cũng tạm gọi là đồng thời, trong nước có chiến dịch hạ bệ, có thể nói tệ hơn nữa là hạ uy danh của ĐT. Võ Nguyên Giáp. “Sự cố” đó hẳn có nhiều độc giả đã biết, xin miễn nhắc lại tình tiết chính trị của nó.

Ở bên ngoài, tác giả Bùi Tín lại phát động một phản chiến dịch tố cáo các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, và nhất là vai trò của Tổng Cục 2, bênh vực tướng Giáp… và sau đó, một loạt các cựu tướng lãnh công thần của Điện Biên Phủ cũng phản ứng để đứng lên bênh vực cho Tướng Giáp. Mâu thuẫn chính trị xem chừng nổ lớn, mọi người chờ đợi một biến cố gì đó sẽ xảy ra, nhưng rồi mọi chuyện lại trở nên êm đềm… Ở nước ngoài, vì không thấy biến cố chính trị nào bên trong xảy ra, có lúc ông Bùi Tín đã chê trách tướng Giáp là "nhu nhược, yếu hèn"!.

* * *

Sau cuộc họp ở nhà ông ĐHT. trở về nhà, tôi đã có dự định sẽ viết một điều gì đó về tấm hình của tướng Giáp. Một bữa, tìm được trên “đống sách điện tử” (Electronic Books) cuốn sách mỏng của ông Frederic F. Clairmont viết về tướng Giáp và trận Điện Biên Phủ. Mặc dù cuốn sách chừng trăm trang thôi, nhưng có một số chi tiết độc đáo, sống động. Tôi đọc liền một mách. Và như thế là cơ duyên của tấm hình và bài viết đến cùng lúc, tôi viết một bài ngắn, tựa đề: ‘Một sự trùng hợp tình cờ giữa tấm hình của ĐT. Võ Nguyên Giáp và cuốn Hồi ký của Frederic F. Clairmont.’

Độc giả có thể đọc lại bài viết ấy theo đường link dưới đây:

http://giaodiem.us/us-2006/12-06/w-nvh-vng-photo.pdf

Trong bài viết ấy, tôi có ghi rõ là sẽ đề cập thêm về ý nghĩa của tấm hình mà tôi từng nghĩ đó là một “công án thiền”, chứ không phải là tấm hình bình thường. Thế rồi, tôi chẳng tìm ra được nội dung ý nghĩa của công án đó, và quên luôn. Lúc ấy, tôi nghĩ tôi còn mắc nợ với độc giả…

Cuối năm 2007, tôi quyết định hồi hương. Việc đầu tiên cần làm là sẽ mua một căn nhà ở Sài Gòn, tiện đường lưu thông và gần bệnh viện để đem mẹ tôi về sống thêm một vài năm nữa. Nếu bà cụ có chết thì sẽ được chôn cất trên quê nhà, và ít nữa ở gần nơi ba tôi đã mất. Tôi hết sức vất vả để tìm cho ra một căn nhà vừa với túi tiền và với thủ tục và điều lệ để đứng chủ quyền căn nhà. Cuối cùng, cũng tìm mua được nhà, nhưng chủ quyền thì còn lấp lửng. Mặc kệ, mua cái đã. Tôi trở về Mỹ vào trước Tết (cuối năm 2007) để thu xếp đón mẹ tôi về. Nhưng vì nhiều lý do, mẹ tôi không thể đi được. Rất buồn, nên trong vòng 10 hôm, tôi lại trở về Việt Nam. Chủ quyền căn nhà là tôi vẫn chưa thể nào được hợp thức hóa, dù đã tốn khá nhiều tiền cho phí tổn giấy tờ và thủ tục rồi cho văn phòng luật sư là người của nhóm GĐ. Có thể tôi khôn mà không ngoan. Cái khôn của tôi là khi về đã nhanh nhẫu bắt liên lạc với mấy ông trong giới Phật giáo, vì nghĩ đã là Phật tử thì lòng dạ họ chân thật, giúp người thay vì hại nhau!! Cái khôn ấy không may trở thành cái nạn về sau, muốn thoát ra đã quá muộn. (Nói thế, nhưng cũng phải mở ngoặc để lòng nhớ tới cái tình, tới những trao gửi tâm huyết các sư đáng kính như: thầy Chơn L., Chơn K., anh Sơn-Tân Phú…) Qua họ, tôi nhận thấy thêm chế độ cộng sản là một tai họa cho những người dân thầm lặng. Họ đau khổ và không ưa chế độ! (3)

Tết về, tôi hưởng xuân một mình, đi mua cây hoa về trồng chậu trên sân thượng. Nhìn ngắm cây cối thấy cũng mát mắt. Tôi mến cái sân thượng nầy. Mỗi đêm không ngủ được, tôi mở cửa ra sân thượng, ngồi một mình ngắm sao và thấy đất trời bao la. Ở đây tôi thường trực thấy mình gần gũi với không gian hơn là nơi xứ lạnh.

Trong dịp festival Huế tháng 4/2008, tôi trở về Huế mấy ngày. Tôi có đứa cháu là Đoàn L. làm ở khách sạn Morin, có căn nhà nằm phía sau phủ Tuy Lý Vương, nhà một lầu mà gió lồng lộng thổi, nên rất thích. Mỗi lần về Huế, tôi thường cư ngụ tại căn nhà đó. Lần hồi mới biết thêm cách đó không xa là nhà của anh Trần Vàng Sao và Nguyễn Khoa Điềm.

Hôm từ giã trở về Sài Gòn, cháu tôi rủ đi mua sắm ở một ‘siêu thị’ thuộc khách sạn Màu Xanh (?) thì phải, nghe L. nói hệ thống khách sạn nầy là cổ phần hợp doanh của tập đoàn điện lực và mấy ông Tướng của quân đội nhân dân. Tôi thấy buồn cho cái xứ Huế nầy lắm, gọi là siêu thị nhưng có thấy ai mua sắm gì đâu. Tiền đâu mà dân đi vào mua ở những chỗ mắc mỏ nầy. Chắc họ bày đặt bắt chước siêu thị Mỹ, nhưng để kiếm tiền từ khách du lịch mà thôi. Đảo mắt một vòng quanh, tôi chợt nhìn thấy một gian hàng bày bán các bức thư pháp viết trên tấm liễn đan kết bằng tre vót nhỏ. Trông nét chữ bay bướm, làm tôi thích. Lựa chọn trong số 5 tấm liễn, tôi bất chợt nhận ra bốn câu thư pháp về chữ “Nhẫn”, dưới ký tên là Võ Nguyên Giáp. Thư pháp được một họa sĩ xứ Huế nào đó viết thật đẹp, tôi quên khuấy tên.

Hốt nhiên, tôi liên tưởng ngay đến tấm hình tọa thiền của Tướng Giáp trước đó.
Giờ đây, chỉ nhớ đại ý của bốn câu ấy như sau:

Nhẫn để thấy yêu thương
Nhẫn để thấy cái vô thường
Nhẫn để được vẹn toàn
Nhẫn để anh em cốt nhục chớ tìm đàng hại nhau.

(phía dưới đề tên: Võ Nguyên Giáp)

Vậy là nhờ cơ duyên, rất 'vô tư', tôi tìm thấy được câu trả lời ý nghĩa về một “công án thiền” cho tấm hình của ông Võ Nguyên Giáp. Bất giác tôi xúc động và thấy vui sướng quá đi. Ngồi trên máy bay trở về Sài Gòn mà tôi miên man suy nghĩ về bốn câu của chữ “Nhẫn” đó. Mà câu cuối cùng là câu sáng tạo và có nhiều ẩn ý nhất. Ai là “anh em cốt nhục” của tướng Giáp? Nghĩ rộng thì đó là con dân người Việt trong một nước. Nghĩ gần, thì “anh em cốt nhục” chính là những người từng được gọi là “đồng chí” vào sinh ra tử với tướng Giáp.

Sau một thời gian ngắn bị “hạ nhục”, một số nhân vật cấp tướng lãnh của quân đội Cộng sản VN, có thể là đàn em, là thân hữu, là đồng môn của tướng Giáp –mà ở khu Tư, khu Năm (đại biểu như Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh) thì có khá nhiều, đã công khai đứng ra bênh vực cho ĐT. Võ Nguyên Giáp để chống lại thế lực chủ động hại ông. Chỉ cần một 'chút dầu' bằng cái gật đầu của Tướng Giáp, thì ngọn lửa căm giận sẽ bùng lên ngút trời… Một cuộc đổ máu chính trị sẽ xảy ra và không ai biết hậu quả của nó sẽ ra sao cả. Nhưng, ĐT. Giáp đã im lặng nhẫn nhục để cho “anh em cốt nhục chớ tìm đàng hại nhau”, thì đúng đó cái hạnh của một vị tướng văn hóa dân tộc.

Tôi muốn kết luận cho ý nghĩa của tấm hình đó và gọi là “công án Nhẫn” của một ông Tướng nên danh nhờ hàng vạn cốt khô, nhưng cuối đời vẫn mang cái hạnh Bồ Tát. (4)

* * *

Gần hơn nửa năm tôi mới hoàn tất được thủ tục đứng tên nhà; nhưng cuối cùng tôi vẫn bị chơi “khăm”, tên chủ quyên căn nhà không phải là tôi, mà là của công ty đến lúc cầm giấy tờ trên tay mới biết bị xí gạt. Đó là một “công ty miễn cưỡng”, tôi phải thành lập để được hợp pháp hóa mua nhà. Đồng thời, qua việc mua nhà, tôi được quan sát rõ hơn một hệ thống tham nhũng bất lương, với sự cấu kết từ các cơ quan hàng ngang, hàng dọc liên ngành, cán bộ Nam - Bắc, cán bộ cũ - cán bộ mới, hệ thống thuế má bắt chước nham nhỡ từ chế độ VNCH, từ Mỹ (do các “nhân tài” nào đó từ nước ngoài về cố vấn). Đó là một hệ thống thuế má có tác dụng ngược, thay vì thu tóm tiền dân và doanh nghiệp cho ngân sách quốc gia trở thành phương tiện để cán bộ đục khoét ngân sách nhà nước. (5)

Chứng kiến tận mắt hoàn cảnh khốn khổ của người dân vẫn tồn tại gần 27 năm từ ngày tôi rời khỏi nước, điểm mặt được lòng tham lam tiền của vật chất của đám quan chức cán bộ, lòng dân ly tán, lòng người tẻ lạnh…không phải chỉ ở Sài Gòn, mà ở bất cứ nơi nào tôi đi qua, từ Sài Gòn đi ra Bình Định, Phan Rang, Phan Thiết, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Đà Nẵng… ra cho tới Huế. Tôi chán nản, nên tôi quyết định bán nhà. Tôi điện thoại về mẹ tôi bên Mỹ, cho biết nếu bán được nhà, con sẽ về Huế ở cho tới ngày chết. Mẹ tôi thì thào trong phôn, “Vú già rồi không còn sống bao lâu nữa, con hãy sáng suốt quyết định cho tương lai của con.” Rồi một hôm, tôi nhận được cú phôn của chị TKL từ Đức gọi về, hỏi thăm. Sau khi biết tường tận một số chuyện, chị ấy khuyên tôi “Thôi H. nên về lại Mỹ. KL về lại Đức mà thấy như trở lại thiên đường. Bên đó dể sợ quá đi.” Câu nói ấy làm cho tôi bừng tỉnh một chút, nhưng trời ơi, 27 năm trước tôi ra đi đâu phải đi tìm chốn thiên đường! Dù sao, tôi vẫn nhớ để cám ơn câu nói của chị TKL.
Nghĩ quanh quẫn ngày này qua ngày khác, cuối cùng tôi quyết định dứt khoát bán nhà và dọt lẹ.

Bán cái nhà đứng tên “công ty miễn cưỡng” còn là một cái nợ trần ai khác nữa, dù bán đổ bán tháo, bán vất đi. Cuối cùng tôi bán được nhà cho một ông cán bộ dầu khí người Bắc, vợ là một người gốc Bình Định. Người đứng tên mua nhà là bà vợ có một cái tên rất đáng ghi nhớ: Nguyễn Thụy Ngô Đình Lệ Thủy! Sau khi đồng ý mua, người chồng nói với tôi, ông quyết định mua vì thấy mấy tấm liễn thư pháp treo trên tường của tôi, trong có hẳn nhiên là có tấm “chữ Nhẫn” của ĐT. Giáp, nhưng tôi nghĩ, ông quên nói còn có thêm tấm hình tọa thiền của tướng Giáp mà tôi đã lồng vào khung kính để trên bàn làm việc.

Bán nhà lỗ là mất đi một số tiền lớn, tôi còn bán rẻ hoặc tặng không đồ đạc cây cối xe cộ cho bất cứ người nghèo nào thấy cảm mến, trong số đó có cô con gái “mất dạy” của tôi là NH Hoài Vy. Nói "mất dạy" vì thật sự tôi có được ở chung với cô con gái này từ trong bụng mẹ tới ngày lớn khôn ngày nào đâu mà biểu tôi dạy! Trước ngày tôi về nước, cháu nói sẽ giúp tôi với điều kiện…nghe thật lạ tai, vì đó không phải là câu nói từ một tân hồn trong trắng và có tình nghĩa cha con. Nhưng dầu sao con gái mình đã từng khoe, “ Ba có biết ông Lê Đức Anh không. Cháu của ông Lê Đức Anh là bạn học của con!”. Dù không thắc mắc gì điều đó, nhưng nghe được “giọt máu” của mình có bạn bè, giao tiếp với dòng họ làm lớn cũng mừng thầm.

Tôi đổi vé máy bay ngày về thật bất ngờ, chỉ một ngày sau khi tôi đã chuyển được số tiền bán nhà lỗ vốn ấy về Mỹ bằng phôn mà tôi đã nghĩ đùa trong đầu là một "telecash-exchange". Ngồi xuống ghế máy bay vừa đúng lúc cài nút an toàn xong thì nghe điện thoại di động reo. Nhìn nhanh vào máy thì thấy số phôn của chú công an trẻ được “người lớn” cắt cử để theo dõi giúp đỡ cho tôi trong những ngày tới. Bỗng một cô tiếp viên người Taiwan có đôi môi mọng ước nũng nịu với tôi, “Sao ông không chịu tắt cái phôn di động ấy đi!”. Tôi vội tắt phôn và mở lời xin lỗi. Có muốn trả lời với chú công an có giọng Nam dễ thương ấy cũng không được nữa rồi.
Goodbye quê hương!

Phụ ghi bổ túc ngày:

(1) Tôi linh cảm có một "conspiracy" từ lâu rồi. Theo tôi, nguyên tắc để hiểu tường tận về một "theory of conspiracy" thì phải hiểu được ai là kẻ chủ động, ai là kẻ chơi cờ, ai sẽ là nạn nhân... ai vì đại nghĩa, ai bất chính, ai quân tử, ai tiểu nhân...từ đó có thể nhìn thấy cái hậu quả của nó là gì. Vì chưa nắm được nội dung đó, nên tôi chỉ mĩm cười ngu ngơ như không biết gì.

(2) Cho tới giờ nầy, tôi vẫn chưa biết mặt mũi của ông Nguyên Vũ ra sao cả. Sự xuất hiện của NV. trên webiste giaodiem.com xuất phát từ TVT. và HVG.

(3) Sau khi trở về Mỹ chừng vài tháng, ngày 20/10/2008 tôi nhận được email của sư CL. nói thẳng ra là tôi bị ông MM. (làm việc cho công an) hại... Xin ghi nhận và cảm ơn sư CL.; Chính tôi là người gặp ông ta để tặng cho ông một ít tiền bạc như lời hứa với sư NT. lúc gắp ở Mỹ mà! Tôi nghe NTừ kể MM từng là đệ tử của Thầy QĐ mà phải tù tội, giờ sống không nơi nương tự khốn khổ lắm nên đem lòng thương cảm. Nhưng nếu sự thật đó chỉ là sự dối trá, và người ta niệm Phật với một bồ dao găm trong bụng thì cũng không phải là điều mới mẻ gì. Lời cảnh giác đó tôi không quan tâm bằng lời của chị TKL nói, "thầy TQ đã nói rồi đừng có chơi với thằng đó !..." Phải chăng "thằng đó là kẻ độc hiểm"?, một kẻ ưa làm thầy người khác, từng được xưng tụng là lãnh tụ thanh niên Phật tử tranh đấu?... Trước đây, tôi hoàn toàn không biết gì về quá khứ của "thằng đó" cả!.

(4) Theo quan niệm của tôi -"Bồ Tát", là kẻ ý thức được (vì mình) mà gây ra mối họa sát sinh, nên phải tìm cách ngăn chận lại. "Dù xây chín bậc phù đồ; Không bằng làm phúc cứu cho một người"! (Có thể có người không đồng ý với quan điểm nầy, bởi giả sử cần phải sát sinh nhỏ để mang lại hạnh phúc cho hàng triệu sự sống khác thì sao? / "Sát nhất miêu cứu vạn thử.")

(5) Tôi thí dụ như : "thuế Giá trị gia tăng" (Accelerated Value) đánh trên hàng hóa là bắt chước của VNCH từ năm 1971; chính quyền csvn đã áp dụng một cách bừa bãi, ngu xuẩn. Hình như họ không hiểu được (trong một hoàn cảnh kinh tế đặc thù nào đó) tại sao người ta cần phải áp dụng thuế "Trị giá gia tăng" (danh từ của thời VNCH). Nhưng trong môi trường thu thuế của CQCS, từ các cơ quan thu thuế đến nơi nhận thuế là 'Kho Bạc' (tổ chức xuống đến cấp quận ở thành phố) có một sự móc nối ngầm, số tiền thu từ loại thuế nầy (trong nhiều trường hợp là bất công, vô lý và hại dân qua phương pháp kế toán thuế; và nạn nhân lớn nhất vẫn là những "chú Việt kiều" từ hải ngoại về làm ăn) bị thất thoát (có thể là trọn gói trong nhiều trường hợp) và đi vào túi của các cán bộ ngầm chia nhau.

Phỏng vấn Hoàng Phủ Ngọc Tường về vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế (1968) của chương trình : ‘Vietnam: a Television History’

Nguồn: tài liệu Anh ngữ lưu cảo của mạng lưới the OpenVault (WBGH )]


Phần I.

Phần dịch của Nguyễn Văn Hóa:

Vài lời của người dịch:

Mục đích của tôi khi muốn tìm hiểu và đào sâu đến những nhân vật (chính thức theo Cộng sản, hoặc là những Phật tử thuần túy trong các phong trào tranh đấu bột phát từ đêm 28/5/1963 ở Huế cho đến khi chế độ miền Nam sụp đổ) đã can dự trong bối cảnh hận thù giữa Công Giáo - Phật Giáo, giữa Quốc Gia – Cộng Sản, đặc biệt là những thanh niên cư dân người Huế, hoặc từng cư trú hoặc theo học ở Huế -họ là ai? Bản chất và con người của họ như thế nào? Bởi lý, tôi cũng là một người sinh trưởng ở Huế (suốt 19 năm) tôi nghĩ tôi cũng có những cái giống họ, nhưng tại sao tôi không nhận ra sự “cực đoan” và "hận thù" của chính mình?

Tại sao họ hận thù chế độ Tổng thống Ngô Đình Diệm khủng khiếp đến thế, và tại sao họ thù ghét đạo Công Giáo cũng khủng khiếp không kém? Có phải vì hoàn cảnh của cá nhân tôi ( 6 tuổi + 5 năm học tiểu học trường làng, 3 năm học trường ‘đạo’, 5 năm theo học ở trường kỹ thuật.. tổng cộng 19 năm) cho đến khi hoàn tất chương trình trung học rồi di cư vào Sài Gòn với gia đình, tôi không có cơ hội để chạm trán, chứng kiến “sự thù hận” hay tham dự vào trò chơi thù hận.. nên không biết gì về những biến sự xã hội chung quanh mình cả?

Trong dịp về nước, vào tháng 4/2008, tôi được ông Nguyễn Hòa (chủ mạng lưới ‘văn chương Việt’ –có thể là một người bạn thân của Trần Kiêm Đoàn!? –bởi, trong một bữa ăn được mời mà tôi đến muộn gặp mặt cả hai người) là một người mới làm quen, nhưng đi đâu, và gặp gỡ ai trong mọi trường hợp.. đều giới thiệu tôi là người chủ động web Giao Điểm ở Mỹ [với hàm ý là một người chủ động 'chống-Công-Giáo']. Tôi không hề đồng ý với lời giới thiệu đó, nhưng cũng chưa hề cần phủ nhận. Một hôm, ông Hòa mời tôi đến ngôi nhà của một phụ nữ ở San Jose về nước thực hiện mạng lưới Yahoo Việt ở VN. Ngôi nhà của bà ấy ở quận 7 (là quận mới, quận “sang trọng” có nhiều ngoại kiều Pháp cư ngụ…) ; và trong buổi tiệc nhỏ hôm ấy, tôi đã gặp gỡ khá nhiều nhân vật “văn chương”, trong số đó có nhà văn Đào Hiếu (xin viết tắt ĐH). Cho đến lúc ấy tôi vẫn chưa biết anh ta là ai, nhưng qua câu chuyện trong bia rượu, tôi mới vỡ lẽ Đào Hiếu là một nhà văn đã từng theo Việt Cộng dưới thời các ông Thiệu-Kỳ). Dư luận thường gọi anh ĐH như là một “người Cộng sản phản tỉnh”, có một website ngang nhiên trước công cộng nói về sự “Lạc Đường” với Cộng sản của mình. Tôi hỏi địa chỉ mạng lưới ấy, anh cho biết. Quả nhiên, về nhà tôi mở được và theo dõi suốt ‘diễn trình’ phản tỉnh của ĐH dưới bầu trời của thành-phố-Hồ-chí-Minh.

“Quay đầu” về Mỹ vào tháng 8/2008, một khoảng thời gian sau đó, tôi lại đọc thêm những chia xẻ, phân trần về Trịnh Công Sơn của ĐH sau khi Trịnh Cung tung lên mạng một bài viết gây “sôi nổi” về TCS. Nhưng, điều ngạc nhiên cho chính tôi, mọi việc mình đều có thể quên…nhưng tôi lại không quên được một ý kiến của một độc giả phụ nữ nào đó đã ca ngợi trong sự nâng cao hào khí của Đào Hiếu lại nhắc nhỡ đến “cái hèn của một người Huế” mà bà/ cô ta đã liên hệ tới nhân vật Tôn Thất Lập vào một dịp xuất hiện trên truyền hình nào đó đã bênh vực cho chế độ Cộng sản –trông thật hèn từ nội dung, cung cách..cho đến giọng nói ! (Nghe cái giọng nói cũng đủ thấy “hèn”!?)

Từ đó, tự tôi đặt ra cho mình một số câu hỏi khác: Liệu những “hành xử” trước và sau thời kỳ hoạn nạn 1975, những nhân vật mà dư luận trong nước (ở nơi riêng tư, kín đáo trong những bàn nhậu, những bàn tròn-bàn vuông cà phê.. bên thân hữu mới dám phê bình, nói xấu huỵch toẹt) ra tới nước ngoài thì “lên án” công khai từ báo chí, sách vở cho tới những mạng lưới internet, như: Hoàng Phủ Ngọc Tường (và em ông), Nguyễn Đắc Xuân, và một số nhân vật theo Cộng sản khác can dự tới vụ thảm sát Tết Mậu Thân Huế ..đều là những người hèn? –Bởi, nếu đích thực họ là những người say mê với “lý tưởng cách mạng”, tôn thờ Hồ Chí Minh, tại sao họ không dám nhìn nhận mình là những kẻ.. đã từng xử tử những ‘kẻ thù’ mang nợ máu? –Ngược lại, nếu họ muốn tự hòa giãi với quá khứ, và muốn sống trong hiện tại bằng lòng “từ bi, bác ái” tại sao họ không nêu thẳng thắn ý kiến…cần có những cuộc giải oan, cho gia đình những nạn nhân đã oan tử được có những nấm mồ, những bia đá kỷ niệm, những cúng tế vong linh (dân chết như rạ trong ngày thất thủ Kinh đô) như truyền thống của người dân Huế mỗi năm trong ngày Rằm tháng Bảy? Ngoài ra có thể, một cung cách anh hùng-trí thức nào đó là họ tự tìm phương cách kết liễu đời mình và để lại những lời trăn trối “muôn thưở” cho những người sống hả dạ, chuyển lòng cảm kích? –Tại sao, đến giờ phút cuối đời, Họ (những kẻ nhân danh hai chữ 'cách mạng' để thi hành những điều độc ác) vẫn tha thiết với sự sống –trong khi chữ nghĩa của họ không đủ và bất khả xóa sạch những lời nguyền rủa? Họ có điều gì oan ức, bị ngộ nhận, hàm oan, nạn nhân của những “con dê tế thần” chăng? -Hay chỉ đơn giản vì họ hèn?

Đối với phía kẻ thù của họ (những người có chức quyền, ủng hộ, tham gia dưới chính quyền của Ngô Đình Diệm hay về sau Nguyễn Văn Thiệu) thí dụ như Liên Thành (và vân vân..) tại sao không dám thẳng thắn nhìn nhận mình là kẻ ra tay (hoặc ra lệnh) giết chết Ngô Kha và vân vân… chỉ vì lý do chính đáng.… Bởi, không dám (và tránh né) trách nhiệm của mình, là vì lòng thù hận vẫn còn, là vì sợ mang tiếng mình là ‘kẻ giết người’ –là điều vô lương tệ hại? Có phải đó cũng là thái độ hèn?

Và, chúng ta thử nghĩ xem, khi một nhu cầu hàn gắn vết thương của dân tộc, một nhu cầu xóa bỏ độc tài, đấu tranh dân chủ cho cả nước, thì thái độ “hèn” của hai phía, nếu còn tồn tại, thì chính quyền Cộng sản Hà Nội vẫn là ngư ông hưởng lợi, và họ có đủ lý do để cứ ôm mãi cái quyền lực “bòn mót túi” của từng người dân (trong và ngoài lãnh thổ), kể luôn cả hành động sẵn sàng “mãi quốc cầu vinh hoa, phú quý”.

Từ đó, trong tôi vướng mắc một câu hỏi “trọng đại” hơn : Liệu tất cả những “thằng đàn ông” Huế đều hèn?

Với sự tra hỏi lương tâm đó, tôi tìm cách dịch lại bài phỏng vấn ông Hoàng Phủ Ngọc Tường của một nhà báo nước ngoài vào ngày 29/2/1982 –được lưu trữ trong kho tư liệu của mạng lưới “the Open Vault” (có đường nối kết kèm theo bài viết) không phải là để phụ họa vào việc ‘buộc tội’ HPNT. Nhưng là để soi chiếu tâm lý của một nhân vật -từ “giọng điệu” của một người rất Cộng sản (gồm những yếu tính như: sắt máu, cương quyết, thẳng thừng, không nương tay, không tình cảm..) đến những lời lẽ mềm mỏng, “dễ thương”, đầy tình cảm của những niềm đau không vơi… của HPNT 15 năm sau, trong cuộc phỏng vấn của bà Thụy Khuê ngày 29/12/1997 ! -Tại sao có sự khác biệt đó?

Do đó, tôi có ý muốn tự mình trả lời câu hỏi đó, và tất nhiên để có câu trả lời đích xác sẽ có những chặng đường khác nữa. Vài lời ngắn ngủi này là để dạo đầu cho một bài viết tâm huyết hơn trong thời gian tới, trước nhất là để chia xẻ cho những người cùng thế hệ như tôi (năm 1963 -chừng 12, 13 tuổi; ngày miền Nam sụp đổ (1975), vừa mới tốt nghiệp đại học, hay vừa xong năm đầu bậc cao học) và sau đó là vài thế hệ trẻ hơn nữa.

Tôi dịch bài viết này trong vòng hơn hai tiếng, và có những thận trọng cần thiết như –tôi cố gắng đặt mình vào tâm lý của nhân vật HPNT trong lúc trả lời, cũng như suy nghĩ thêm về những địa-phương-tính, “lý-tưởng-tính” trong từ ngữ.. nhằm vào việc có thể bộc lộ được bản chất, vai trò của người được phỏng vấn (theo suy nghĩ tiếng Việt), bởi lẽ nội dung cuộc phỏng vấn đã được chuyển thành Anh ngữ. Nếu có gì sai sót, tôi xin nhận trách nhiệm (và cả lời ‘chỉ giáo’) trước với các ông HPNT, thân hữu của ông, cũng như quý độc giả đứng ở bất cứ quan điểm nào. Xin có lời cảm ơn đến mọi người.

(Cuối bài dịch có vài ghi chú nhỏ.)

nguyễn văn hóa

Wednesday, November 18, 2009



Phỏng vấn ông Hoàng Phủ Ngọc Tường của chương trình “VietNam: a Television History” ngày 29/02/1982

-- Phỏng vấn hỏi (H): Ông có thể mô tả biến cố nổi dậy ở Huế đặc biệt liên quan tới vụ thảm sát từ lúc ông ở đấy?

--HPNT trả lời: Đó là một chiến thắng vĩ đại của nhân dân ở Huế. Thế nhưng, cái giá cho sự chiến thắng này là một sự trả thù chưa từng thấy của Mỹ và quân đội bù nhìn sau đó. (Ông không có…thông dịch ngay bây giờ chứ?) Thế nên người dân Huế đã phải trả giá cao nhất so với các cư dân khắp cả nước. Bởi vì không có nơi nào khác Mỹ đã chịu sự tổn hại về chính trị và vật chất nhiều như ở Huế.

--Sự trả thù cực kỳ khủng khiếp. Song, theo quan điểm của tôi –quan điểm của một người đã xuyên suốt thời kỳ kháng chiến chống Pháp và rồi đến thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, bọn thực dân mới có nhiều tinh ranh hơn so với thực dân (cũ) (1). Hay nói cách khác, tôi thường cho rằng bọn thực dân (cũ) nhiều thô bạo hơn bọn thực dân mới. Và điều này chắc chắn đúng với hoàn cảnh trong suốt Tổng tấn công Tết 1968.

--Bởi vì mọi tội ác tạo ra bởi Mỹ, càng lâu càng được thế giới bên ngoài quan tâm, chúng chuyển hóa thành tội ác của cách mạng chống lại nhân dân họ. Tôi muốn ám chỉ việc đã dùng vụ thảm sát như một vũ khí đặc biệt trên bàn hòa đàm Pari nhằm bôi nhọ cách mạng Việt Nam. Đây là điều tôi biết rất rõ vì tôi là một nhân chứng.

Tôi sẽ nói cho ông mọi sự một cách rất khách quan. Trước tiên, những người bị giết chết được biết đến, trong số đó chắc chắn có người bị giết chết bởi bộ đội của chúng tôi vì khi chúng tôi đến nhà chúng để đòi hỏi chúng đầu hàng, chúng bắn vào quân giải phóng làm họ bị thương. Nên chi những người này phải bị bắn ngay lập tức. Trong số người này có tên phó thị trưởng, hắn đang sống ở Huế lúc đó.

Từ lầu hai trong căn nhà của hắn, hắn đã bắn vào bộ đội và từ chối đầu hàng. Thế nhưng không có nhiều lắm loại này. Trong vài trường hợp khác, một số bị giết vì đã từng tra tấn các cư dân, gây cho cả nhiều gia đình phải tù tội và bị đày ra “côn đảo” (2) . Và thế rồi khi cách mạng vào thành phố, các cư dân đi lục soát tìm cho ra những tên bạo ngược này để trừ khử chúng như trừ khử những con rắn độc, mà nếu như để cho sống sót, chúng sẽ tạo nhiều tội ác hơn nữa trong chiến tranh.

--Và mặc dầu chính sách của chúng tôi là chỉ nhằm cải tạo và không bao giờ giết bất cứ ai đầu hàng chúng tôi, song khi cư dân của thành phố đã nắm công lý trong bàn tay của chính họ, thì các cấp lãnh đạo cách mạng của chúng tôi không còn có thể kiểm soát dân chúng trong suốt thời kỳ mà trận chiến đang diễn ra cuồng điên. Nhưng tôi phải nói cho ông biết rằng một trong những bọn bạo ngược đó có ít nhất là 10 tên –chúng là người thân trong gia đình của những người khác.

Thế nên, đối với bất cứ ai từng theo dõi hoàn cảnh của chiến tranh, sự thể đó thực ra là một sự trả thù nhỏ nhoi. Và, theo quan điểm của tôi, mọi cuộc cách mạng đều giống nhau. Bởi vì đó là một cuộc chiến tranh mà sức mạnh quân sự và trang bị cực kỳ chênh lệch. Nhân dân chúng tôi không sở hữu được những thứ vũ khí như đế quốc Mỹ có, cho nên cách (chúng tôi-cộng sản) hành xử công lý rất là nhẹ nhàng.

--Nên chi đa số người dân đầu hàng và bị giam giữ bởi chúng tôi đều được đưa vào các trại ‘học tập cải tạo’ trong rừng. Hầu như phần lớn họ đã được thả về. Chỉ có một số ít đau yếu bởi vì họ không chịu đựng được với khí hậu rừng rú. Song, điều ấy cũng chẳng sao cả. Họ đều được trở về với gia đình. Nhưng có một số bị giết.

Phần lớn những người này bị giết và chôn trong thành phố rồi sau đó được khai quật bởi Mỹ và chính quyền tay sai để mà làm phim ảnh; trước hết (3), dân chúng bị giết bởi bom đạn Mỹ bắn phá trong lúc chúng phản công. Thí dụ, Mỹ đã dội bom ngay một bệnh viện gần chợ Đông Ba, giết hại và làm bị thương trên 200 người. (4)

--Tôi đi bộ khắp các đường phố vào đêm, vào lúc ấy tôi nghĩ tôi đang bước trên đống bùn. Thế mà khi tôi bật cái đèn ‘pin’ lên, máu khắp mọi nơi. Cả một khu vực bị bỏ bom bởi bọn Mỹ. Và thế rồi, trong những ngày cuối khi chúng tôi triệt thoái ra khỏi thành phố, kẻ thù đã lượm những xác chết vì bom đạn này rồi chôn họ. Lý do thứ hai (3), có rất nhiều gia đình có người thân đã tham gia cách mạng.

Có rất nhiều người theo lực lượng (‘cách mạng’) vào rừng sau cuộc tấn công Tết. Và khi kẻ thù trở vào trong thành phố, chúng đã giết những người thân của các gia đình này rồi đem chôn trong những hầm tập thể (5) . Nhiều xác chết của lính Giải phóng –những người mà chúng tôi không có thời giờ để thu nhặt xác cũng bị chúng đem bỏ vào những hố chôn tập thể. Cộng thêm vào thanh niên và những tù nhân họ đi theo chúng tôi vào rừng cũng bị giết hại bởi máy bay Mỹ chết chung với nhiều đồng chí của chúng tôi. (6)

--Trong suốt thời kỳ từ 1975 đến 1977, trong khi đào các đường mương và kênh dẫn thủy, chúng tôi đã khám phá rất nhiều hố chôn tập thể cái-được-gọi-là nạn nhân bị thảm sát thì toàn là những người mang đồng phục quân-Giải-phóng và nón-tai-bèo của Lực lượng (giải-phóng) (7). Điều này đã thực sự nói lên mưu mô quanh co giảo quyệt của bọn tân-thực-dân. Chúng giết hai con chim bằng một hòn đá. Trước hết là vì chúng muốn tìm cách che dấu tội ác của chúng.

Hai nữa là chúng muốn đổ lên đầu bộ đội cách mạng những tội ác của bọn chúng. Đấy là điều mà tôi đã chứng kiến. Và một sử gia người Mỹ (8) sau đó viếng thăm Huế đã nói cách công khai rằng đấy là chiến dịch đại-tuyên-truyền của Mỹ -một chiến dịch cho cân xứng với –cái giá về tiền bạc được chấp thuận bởi tên Kissinger nhằm bôi nhọ Mặt Trận Giái Phóng Miền Nam về Tết Mậu Thân 1968.

--Điểm khác mà tôi muốn nhấn mạnh là cả một bộ máy tuyên truyền của Mỹ với thế giới đã cố dùng mọi nổ lực để đổi trắng thay đen về sự biến Tết (Mậu Thân) nhằm đánh lừa thế giới. Sự thực là có con số của bọn bạo tàn đã bị giết vì sự giận dữ của dân chúng. Nhưng con số này quá nhỏ so với con số quá lớn mà những người còn sống sót trong sự biến Tết (Mậu Thân) chạy ra nước ngoài và giờ đây họ đã vu khống có-tổ-chức nhằm chống lại cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, (ông) phải hiểu cho rằng mặc dù chúng tôi được sự ủng hộ khắp thế giới khi chúng tôi chiến đấu chống lại kẻ thù của chúng tôi, mà chỉ có nhân dân chúng tôi bị bịt mồm và chịu đổ máu trước những họng súng của kẻ thù.

--Trong suốt cuộc chiến đấu, chúng tôi đã phải đem lại công lý chống lại kẻ thù không đội trời chung của nhân dân –những kẻ mà thế giới đã nhìn nhận như những tội phạm chiến tranh. Tòa án Bertrand Russell, là một thí dụ đã, cho rằng nếu đã có tòa-án-kiểu-Nuremberg, thì có hàng ngàn người được tha chết trong trận Tấn công Tết (Mậu Thân) –là những kẻ đáng bị treo cổ sau khi chiến tranh chấm dứt.

Nhưng, như Bertrand Russell đã dẫn chứng, công lý chẳng bao giờ được thi hành. Vì vậy, mà một anh lính Mỹ như Trung úy William Calley đã giết nhiều người ở Sơn Mai mà vẫn chưa bị treo cổ. (9)

--Nhằm “biển lận” sự chú ý của nhân dân khỏi tội ác đó, chúng đã giả tạo một cuộc thảm sát Tết (Mậu Thân) để bôi bẩn cách mạng. Điều này chứng tỏ Mỹ không quan tâm đến vấn đề danh dự của một nước lớn đi đánh một nước nhỏ bé. Chính quyền Mỹ đã nói láo về.. trận Tấn công tết (Mậu Thân).

--Người phỏng vấn: Vui lòng tiếp tuc…

--HPNT: Ngô Đình Diệm đích thực là một tên phát-xít. Tôi sống ở đấy dưới thời Ngô Đình Diệm. Và tôi đã nhận ra rằng Diệm muốn trở thành một ông vua (khác). Trước đó Diệm đã là một ông quan lớn. Thí dụ về gia đình của Diệm sống gần cầu Phủ Cam ở Huế đã bắt ép các nhà trí thức, quan chức, giáo sư đại học ăn bận theo kiểu xưa đến chầu hầu trước sân nhà hàng năm trong các dịp Tết và (không nghe rõ)… , đấu hót những lời chúc tụng Năm Mới và Chúc Thọ Ngô Đình Diệm, bà mẹ và các người thân khác trong gia đình của ông ta.

--Mẹ của Diệm ngồi trên “ngai vàng” (golden throne) để quan sát suốt buổi lễ. Chỉ chuyện này thôi cũng cho ông thấy chế độ dân chủ của Diệm nghĩa là gì. Thực sự mà nói, dân chủ thì không có những điều như thế. Đấy là một hệ thống phát-xít và phong kiến. Đấy là gia đình của Diệm. Về chính sách của Diệm, ông ta nổ lực xóa tan mọi tự do dân chủ của người dân. Thí dụ như ông ta đã ban hành một đạo luật gọi là…

--Mục đích của Diệm là triệt hạ người Cộng sản. Và đấy là những gì mà người Mỹ muốn ông ta làm. Nhờ vậy mà ông ta có thể tránh thoát mọi ảnh hưởng của Cách Mạng tháng Tám trong thành phố này, một thành phố đã đánh sập chế độ quân chủ và trương lên ngọn cờ Cách Mạng tháng Tám. Thế nên tất cả các gia đình có con em tập kết đi ra Bắc (sau Hiệp ước Giơ-neo/ Geneva) từng người một bị cầm tù, lưu đày và tra tấn cho tới khi họ phải lên tiếng tố cáo những người thân của mình.

--Sau đó, rất nhiều gia đình cố gắng để che dấu tung tích là họ có con em và người thân tập kết ra Bắc. Đấy là thứ chống-Cộng áp bức người dân quên đi màu cờ của cách mạng. Và thế rồi sự đàn áp càng gia tăng với bất cứ phương cách nào có thể áp dụng được. Một trong những phương cách đó là những phụ nữ có chồng tập kết ra Bắc đang có bầu bị đá vào bụng cho tới lúc bị sẩy thai.

--Bọn tra tấn nói rằng dù chỉ một giọt máu trong giòng máu Cộng sản cũng không thể để lại trong bụng của những phụ nữ miền Nam. Mọi phương tiện này khác được thực thi bằng Đạo Luật 10/59 mà Diệm đã ban bố. Ở Huế trong thời gian này là một nơi thật bỉ ổi giam cầm người dân gọi là “Chín Hầm”. Những người yêu nước đều bị giam giữ ở đó. Khi chế độ Diệm bị lật đổ, chúng tôi đến cứu những tù nhân bị nhốt trong các hầm đó và thấy họ như những người rừng rú.

--Tóc và râu họ mọc dài và chỉ còn xương với da. Những tù nhân này bị bắt đứng suốt khi những cơn mưa nhỏ xuống khe hỡ thì đôi chân của họ ngập trong nước năm này qua năm khác. Họ chỉ được đứng, nên phần ở hậu môn và đàng lưng hoàn toàn bị nhiễm trùng. Họ không còn là con người nữa và họ bị giam giữ ở đấy cho tới khi chết. “Chín Hầm” là phương tiện đàn áp bỉ ỗi chưa từng có được áp dụng cho những ai bị coi là Cộng sản.

--Tôi không biết chế độ Hitler tàn bạo như thế nào, nhưng tôi có thể nói chắc rằng chưa có những tội ác chống-nhân-loại nào mà có thể so sánh với chế độ Diệm sau thời Hitler. Càng lúc sự tự do tôn giáo được quan tâm, Ngô Đình Thục –anh của Diệm và là tổng giám mục ở vùng này đã ép buộc tất cả Phật tử và người dân không-tôn-giáo phải theo Công Giáo. Vào dịp lễ Phật Đản chúng bắt Phật tử phải hạ cờ quạt, biểu ngữ (Phật Giáo) xuống. Điều đó dẫn tới sự nổi dậy của Phật tử và hậu quả, sự chống đối khắp thành phố dẫn tới sự sụp đổ chế độ Ngô Đình Diệm.

Chú thích :

(1) HPNT muốn so sánh sự khác nhau về mức độ ‘quỷ quyệt’ giữa thực dân mới (Mỹ) và thực dân cũ (Pháp), nhưng ông chỉ dùng chữ “colonialist”, nên tôi mở ngoặc thêm từ “cũ” chữ nghiêng cho rõ nghĩa. Từ đây mọi chữ nghiêng trong ngoặc đều mang ý nghĩa như thế cả.

(2) “Penal island” là hòn đảo giam giữ các tội phạm, nhưng trong thực tế, ở VN từ thời Pháp cho đến VNCH, Côn Đảo là nơi duy nhất giam giữ các ‘tù chính trị phạm’, nên tôi dùng luôn địa danh Côn Đảo cho dể hiểu.

(3) Trong bài trả lời phỏng bà Thụy Khuê (1997 –kèm theo ở dưới đây), HPNT có đề cập tới lần phỏng lần này –như bằng cớ mà người ta “vu oan” cho ông là người đã nói những kẻ bị giết chỉ là những con rắn độc. Ông có nhắc lại ba (lý do) mà ông đã trả lời; nhưng đúng ra không ăn khớp với nội dung HPNT đã biện minh. Các nhóm chữ nghiêng tiếp theo là để độc giả lưu ý tới (3) lý do đó.

(4) Biến cố Mậu Thân 1968 –tôi bị kẹt lại Huế (đúng ra là đã ra phi trường Phú Bài để về Sài Gòn ăn Tết với gia đình , nhưng vì ham chơi nên tới trễ). Sau đó, tôi ‘tản cư’ về làng An Truyền, thuộc quận Phú Vang. Dĩ nhiên, sau khi trận chiến kết thúc (26 ngày), tôi trở lại phố Huế cũng có chứng kiến nhiều chuyện sau biến cố, nhưng không nghe nói đến vụ máy bay Mỹ bỏ bom trên bệnh viện Trung Ương Huế (theo HPNT gần chợ Đông Ba chỉ có là bệnh viên này!). Nếu có đến 200 người chết và bị thương thì đa số phải là bệnh nhân? Nếu có ai biết rõ vụ bỏ bom này, xin cho biết. Đa tạ.

(5) “Hầm chôn tập thể” (Mass graves) với “Hố chôn tập thể” có sự khác nhau. Bởi, “Hố” có thể là những hố đào cá nhân để tránh bom đạn, hoặc các “hố chiến đấu” của bộ đội VC hay của quân VNCH; nhưng trong bản dịch, ghi là “Communal graves”. “Hầm chôn tập thể” có chủ đích là người ta đào hầm này nhằm vào việc chôn sống nhiều nạn nhân hoặc chôn những người đã bị giết. Cho nên, tôi vẫn cho đó là “hầm chôn tập thể”.

(6) Lời phân bua của HPNT trong đoạn này, tôi nhận xét thấy rất giống với lời của Nguyễn Đắc Xuân kể lại trong dịp đến Mỹ trong tháng 4/2006. Tối hôm đó (gần cuối tháng 4/08), tại nhà của Trần Việt Long ở San Jose (bạn thân của các ông Nguyễn hữu Liêm, Lý Khôi Việt (đã chết), Phan Mạnh Lương (tổ chức Từ thiện GĐ)...có đủ mặt họ và tôi.

(7) “the Lotus-shaped hats” không thể nào dịch là những “nón Hoa-sen”, vì thực tế ai cũng từng thấy bộ đội Việt cộng thường đội nón ka-ki màu xanh lá cây… gọi là “nón tai bèo” (vì có hình dạng giống lá cây bèo nước).

(8) Có lẽ HPNT muốn nói đến ông Stanley Karnow?

(9) Ông HPNT muốn nói đến vụ thảm sát ở Mỹ Lai (hai ấp chiến lược Sơn Mỹ và Sơn Khê thuộc làng Mỹ Lai.)

__________________________________________________________________________

Bản chính (Anh ngữ) của bài phỏng vấn:

Propaganda of casualties at the Battle of Hue

Roll 69 of Vietnam Project, Feb 29, 1982, 512, Take 1.

Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, writer.

Sync Interviewer: Could you describe the events of the Hue uprising and particularly relating to the massacre since he was there? Hué

Sync Hoang Phu Ngoc Tuong: It was a gigantic victory of the people in Hue. But then the price for this victory was an unprecedented retaliation by the Americans and the puppet troops which followed. (You don’t have to...provide the translation right now?) And so the inhabitants of Hue had to pay the highest price of all the urban populations in our country. This was because nowhere else had the American suffered so much physical and political losses as in Hue.

The retaliation was extremely horrible. But in my opinion, the opinion of a person who had gone through the resistance period against the French and the period of war against the United States, the neocolonialists were more intelligent than the colonialists. Or in other words, I usually said that the colonialists were much more crude than the neocolonialists. And this was certainly true with the situation during the 1968 Tet Offensive.

This was because all the crimes committed by the United States were turned, as far as the outside world was concerned, into crimes committed by the revolutionaries against their own people. I am referring to the massacre which the United States used as a kind of special weapon at the negotiating table in Paris in order to smear the Vietnamese revolution. This was something I knew very well because I was a witness.

And I will tell you the whole thing in a very objective way. First, as far as the people who were killed were concerned, there were certainly people who had been killed by our troops because when we came to their house and asked them to surrender, they shot at our soldiers and wounded them. So these people had to be shot on the spot . Among these people was the deputy province chief who was living in Hue at the time.

He shot down at the soldiers from the second floor of his house and refused to surrender. But there were not many people in this category. In some other cases, some people were killed for having tortured the inhabitants and caused whole families to be imprisoned and exiled to the penal island. And so when the revolution came into the city, the inhabitants went around and searched for those despots to get rid of them just as they would get rid of poisonous snakes who, if allowed to remain alive, would cause further crimes in the war.

And so, even though our policies were only to re-educate and never to kill anyone who surrendered to us, when the city inhabitants took justice in their own hands there was little our revolutionary commanders could do to control the population during the period when the fighting was raging . But I must tell you that each of those despots at least ten persons who were members of the other person’s family.

And so, for any person who had followed the war situation at all, this was indeed a very light revenge. And, in my opinion, you have similar things in every revolution. This is because this was a war in which there was an extreme imbalance in terms of material and military strength. Our population did not possess the kinds of weapons the US imperialists had, and so the way they carried out their justice was extremely light.

But the majority of the people who surrendered and detained by us were taken to the re-education camps in the jungle. Almost all of them were subsequently released. Only a few of those people got sick because they were not used to the climate in the jungle. But there was nothing to it. They were all returned to their families. But people did get killed.

The majority of these people who got killed and buried in this city and were subsequently exhumed by the Americans and the puppet government in order to make their films were, first of all, people who had been killed by the American bombing and strafing during the counterattacks. For example, the Americans dropped a bomb smack into a hospital in the Dong Ba neighborhood, killing and wounding over 200 persons.

I walked through the streets at night at that time and I thought I was walking in the mud. But when I turned on my flashlight, I saw blood all over the neighborhood. The whole neighborhood had been bombed down by the Americans. And so, during the last days when we were withdrawing from the city, the enemy collected these bodies of bombing victims and buried them. Secondly, there were many families whose members participated in the revolution.

There were many people who followed our forces into the jungle after the Tet offensive. And so when the enemy came into the city, they killed the members of these families and had them taken to the communal graves . Bodies of Liberation soldiers whom we did not have time to retrieve were also taken to the mass graves. In addition the young people and the prisoners of war who walked with us into the jungle were killed by the American planes along with our cadres.

During the period from 1975—1977 when we dug canals and irrigation ditches, we discovered that in the mass graves of the so-called massacre victims there were full of people who were wearing the lotus-shaped hats (Liberation forces) and wearing Liberation forces’ uniforms. This was indeed the devious trick of the neocolonialists. They killed two birds with one stone. First, they managed to hide their crimes.

And second, they heaped all their crimes on the heads of the revolutionary troops. This is something I witnessed. And an American historian who visited Hue after that said publicly that he thought that it was a big propaganda campaign by the Americans—a campaign of strategic proportion —which cost the Americans a lot of money and which was approved by Kissinger himself to smear the NLF on the Hue situation of Tet 1968.

Another thing I would like to emphasize is that the whole American propaganda machine in the world was utilized in this effort to turn white into black on the Tet incident in order to deceive the whole world. It is true that a number of the despots was killed by the angry population. But this number is small compared to the large number of people who survived the Tet incident and fled abroad and who are now slandering organizing against the Vietnamese revolution. But you must understand that although we had support from all around the world, when we fought against our enemy it was only our people who were standing in front of the muzzles of the enemy’s guns and shedding our blood.

And during this struggle, we had to carry out justice against the arch-enemies of our people, those people whom the world had recognized as war criminals. The Bertrand Russell tribunal, for example, had to concede that if there had been a Nuremberg-type of tribunal then thousands of people whose lives were spared during the Tet Offensive would still have deserve to be hanged after the war was over.

But, as Bertrand Russell also stated, this justice would never be carried out. Therefore, an American soldier such at Lt. William Calley who killed many people in Son Mai is still not hanged.

And in order to diver people’s attention from this kind of crime, they faked the Tet massacre in order to do a smear job on the revolution. This proves that the United States never paid any attention to the question of honor of a big country fighting against a small country. The American administrations have lied about... Tet Offensive, 1968

Sync Interviewer: Please continue.

Sync Hoang Phu Ngoc Tuong: Ngo Dinh Diem was truly a fascist. I lived here throughout the Ngo Dinh Diem period. And I realized that Diem wanted to become another king. Formerly Diem had been a high court mandarin. For example, Diem’s family, which lived hear the Phai Cam bridge here in Hue, forced all the intellectuals, bureaucrats, and university professors to wear ancient garb to come to the courtyard every year on the occasion of Tet and (unreadable) there, chanting New Year’s wishes and Long Life to Ngo Dinh Diem, his mother and other members of his family.

His mother was sitting on a golden throne observing all the rituals. This alone shows you what Diem meant by democracy. In fact, you can say that there was no such thing as democracy. There was only a feudal and fascistic system. This was what his family was like. As for his (Diem’s) policies, he strived to eradicate all the democratic freedoms of the ordinary people. For example, he issued a law code called...

His aim was to annihilate all the Communists. And this was what the Americans wanted him to do. So he had to get rid of all the influences of the August Revolution in this city, a city which brought down the monarchy and hoisted the banner of the August Revolution. And so all the families whose children had been regrouped to the north (after the Geneva Agreement) were one by one imprisoned, exiled and tortured until they denounced their loved ones.

After that, there were many families who tried their best to hide the fact that they had children and relatives who were now regrouped to the north. This was the kind of anti-Communist which forced the population to forget the color of the banner of the revolution. From then on, the repression went full speed ahead and every possible means was used. One of the means was that women whose husbands were now regrouped to the north and who were pregnant were kicked in the bellies until they aborted.

The torturers said that you could not allow even a single drop of Communist blood in the belly of any woman in the south. This and other means were employed through the use of the Law Code no. 10/59 which Diem had decreed . In Hue at that time there was a very infamous place for imprisoning people called the “Nine Tunnels”. Patriots were kept there. When the Diem regime was toppled we went into those tunnels to rescue the prisoners and saw that most of them were like jungle people.

That is to say, they had long beards and hair and just skin and bones. These prisoners had to sit on platforms where rain water leaked down and where their feet were soaked in water year in year out. They could only sit up, and their behinds and backs were all infected. They did not look like human beings anymore and they were put there until they died. This was the very infamous “Nine Tunnels” where unprecedented repressive means were carried out against those considered to be Communists.

I don’t know how cruel Hitler was, but I can certainly say that there were no crimes against human beings which resembled the crimes committed by the Diem regime here during the post-Hitler era. As far as religious freedoms were concerned, Ngo Dinh Thuc, Diem’s brother and the archbishop in charge of this area, forced all Buddhist and all non-religious people to worship as Catholics. On Buddhist anniversaries they forbade all Buddhist banners to be put up. This led to the Buddhist uprising and, subsequently, the city-wide protest which led finally to the downfall of Ngo Dinh Diem.

Nguồn:

http://openvaultresearch.wgbh.org/record/display/index/pid/wgbh:e67ef62e29a364dbb7faeb55837714f9163fe9ec



See this record in relation to others.

Source:

Series: Vietnam: A Television History

Program: Tet, 1968

Episode: 107

Description: Hoang Phu Ngoc Tuong interview.

Topics: Hoàng, Phủ Ngọc Tường, Agreement on Ending the War and Restoring Peace in Vietnam (1973), Geneva Conference (1954)

Media:

Type: Moving image/Original footage (1)

Physical format: Digital Betacam Cassette (1)

Total running time: 00:15:18

People:

Interviewee: Hoang Phu Ngoc Tuong

___________________________________________________________________________

Phần 2:

Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế
(RFI, 12 tháng 7, 1997)

Thụy Khuê: Thưa anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, đây là lần đầu tiên anh đến Pháp? Lý do gì đã khiến anh được đi? Xin anh cho biết cảm tưởng của anh.

Hoàng Phủ Ngọc Tường: Đúng là lần đầu tiên tôi tới Pháp. Tôi sang Pháp qua cửa ngõ của nước Đức, ở đấy tôi đã nhận được sự bảo trợ của hiệp hội Schmitz Stiftung để đi dự tuần Việt Nam của tổ chức "Chung Một Thế Giới" ở thành phố Freiberg. Tiếp theo tôi đi dự hội thảo Euro-Việt III tại Amsterdam. Và sau đó tôi sang Pháp chơi. Ấn tượng mạnh nhất của tôi sau gần một tháng lãng du bên Tây là như thế này: Trước mắt tôi là một cuốn sách mà tưởng chừng như tôi đã biết hết mọi cái ở trong đó, nhưng chính lúc này tôi lại đang giở ra những trang đầu. Cuốn sách đó tên gọi là Châu Âu.

TK: Thưa anh, nhân dịp này xin hỏi anh một vài vấn đề liên quan đến biến cố Mậu Thân ở Huế mà từ bao nhiêu năm nay, anh đã bị một số dư luận xem như anh có dính líu vào, hoặc anh là một trong những "thủ phạm" vụ Mậu Thân. Trước hết, xin anh cho biết: Mọi việc thực sự đã xẩy ra như thế nào?

HPNT: Hàng chục năm nay, mỗi năm cứ tới dịp 30 tháng 4, hoặc dịp Tết thì nhiều tờ báo hải ngoại lại đưa tên tôi ra làm con vật tế thần, bằng cách nói đi nói lại, y như thật, rằng tôi là một tên đồ tể Mậu Thân ở Huế. Thực ra thì đó là một sự bịa đặt, mang ý định vu khống hoàn toàn. Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế.

Sau năm 1975, ít ra là đã có ba tài liệu sau đây xác nhận rằng tôi không có mặt ở Huế hồi Mậu Thân:

1. Nhiều người hay nhớ lõm bõm bài trả lời phỏng vấn của anh Lê Văn Hảo trên báo Quê Mẹ, xuất bản ở Paris, để buộc tội tôi. Thực ra thì trong bài này, tôi đã đọc kỹ, thấy anh Hảo nói rất đúng rằng, hồi Tết Mậu Thân, cả anh Hảo và tôi đều đang ở trên một vùng núi, cách xa Huế gần 50 cây số, và không hề có chuyện tôi về Huế để giết người.

2. Bài viết của anh Đặng Tiến đăng trên báo Thông Luận, Paris, trong đó Đặng Tiến dẫn chứng nhiều nguồn tư liệu đã công bố ở trong nước, do nhiều nhân vật khác nhau cung cấp, bác bỏ những lời lẽ xảo ngôn lệnh sắc trên báo Thông Luận buộc tội tôi về chuyện giết người ở Huế trong năm Mậu Thân.

3. Trong cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, của Nhã Ca in sau biến cố Mậu Thân, tác giả cũng nói rằng: Phủ (tức là tôi), không về Huế, và nếu có về thì chắc cũng không giết người. Tôi thành thật cảm ơn chị Nhã Ca đã dành cho tôi điều nhìn nhận khách quan rất quan trọng này, dù trong cảnh tượng máu lửa hỗn quan hỗn quân của Huế Mậu Thân.

Đã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi -Hoàng Phủ Ngọc Tường - lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là "đồ tể" Mậu Thân ở Huế được?

TK: Như vậy thì anh đã làm gì trong thời gian Tết Mậu Thân? Anh ở đâu? Anh làm những chức vụ gì?

HPNT: Có một tổ chức chính trị của các lực lượng đấu tranh của phong trào Huế ra đời trong bối cảnh xuân Mậu Thân, ấy là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế, do anh Lê Văn Hảo làm Chủ tịch, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó chủ tịch. Với tư cách Tổng thư ký, tôi luôn luôn có mặt bên cạnh các vị kể trên để làm công tác chính trị của Liên Minh, tuyệt nhiên không dính líu gì đến chuyện nhúng tay vào máu ở Huế. Trụ sở chiến dịch của Liên Minh là một địa đạo Trường Sơn, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Huế. Trụ sở này, đã được mô tả đầy đủ trên báo Lao Động, ở trong nước cách đây hai tháng.

TK: Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào?

HPNT: Huế Mậu Thân đã xẩy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.
Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy.

TK: Vậy, theo anh, ai trách nhiệm những thảm sát ở Huế?

HPNT: Tôi không đủ thẩm quyền để phán xét bất cứ cá nhân nào. Xin trích dẫn theo trí nhớ một ý tưởng trong hồi ký của chính ông Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân: Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi. Qua bài hồi ký tâm huyết này, đã được công bố trên tạp chí Sông Hương, Huế, và sau đó, nếu tôi không nhớ lầm, đã được dịch và in toàn bộ trên báo Mỹ Newsweek, tác giả, Lê Minh (lúc đó đã nghỉ hưu), còn nhắc nhở rằng, điều quan trọng có thể làm, và phải làm bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ.

TK: Ngoài ra anh còn "được" hay "bị" là nhân vật của nhiều tiểu thuyết, đặc biệt là Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác. Tường trong tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác và anh, có chỗ nào giống nhau? Chỗ nào khác nhau?

HPNT: Có lẽ chỉ giống nhau ở cái nốt ruồi ở góc cằm, như Nguyễn Mộng Giác đã lưu ý độc giả vào cuối bộ sách. Ngoài ra thì không nên nói đến một sự giống hoặc khác nhau nào giữa một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết và một con người thực đang sống ở ngoài đời là tôi. Nhưng có điều khác nhau rất quan trọng là: Tôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, thì không có mặt trong Mậu Thân ở Huế như nhân vật trong tiểu thuyết của anh Nguyễn Mộng Giác. Và tôi cũng chưa bao giờ biết làm công việc của một tên chỉ điểm hèn hạ để hại bạn như là cái thằng Tường trong sách của anh Giác.

À mà anh Nguyễn Mộng Giác này, chán chi tên mà tại sao anh lại lấy tên tôi để đặt cho cái nhân vật khốn khổ tội nghiệp của anh, khiến những kẻ độc miệng cứ nhè vào tôi mà vu khống, mà nguyền rủa mãi như vậy? Nếu nhân vật trong Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác mang một cái tên nào khác, thí dụ như Vách, Phên chẳng hạn, chắc chắn là không có gì dính líu tới Tường này cả.

TK: Anh nghĩ sao về Giải Khăn Sô Cho Huế của chị Nhã Ca?

HPNT: Dù có một số sự việc không đúng sự thực, do có hoặc không có dụng ý của tác giả, Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay, viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng. Chị Nhã Ca làm tôi liên tưởng tới Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh.

TK: Về một lời tuyên bố của anh trong một phóng sự chiếu trên đài truyền hình Mỹ, Anh, Pháp ... mà nhiều người đã dựa vào đó để đả kích anh. Anh đã tuyên bố những lời ấy trong trường hợp như thế nào? Tại sao?

HPNT : Hồi đó, ông Burchett và đoàn làm phim "Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình" tới Huế, chọn tôi để chất vấn về chuyện tang tóc của Huế Mậu Thân. Tôi nhớ một cách đại thể, là tôi đã nói về ba thành phần nạn nhân khác nhau: 1) Những người chết do hành động trừng phạt của quân giải phóng dành cho những người thực sự có tội. 2) Những người bị giết oan. 3) Những nạn nhân chết do Mỹ ném bom vào đám đông hoặc quân chính phủ bắn giết trả đũa khi phản kích. Cả ba trường hợp này đều có thực, chết nằm xen kẽ nhau trên các đường phố Huế Mậu Thân.

Lâu rồi, trả lời ứng khẩu thế thôi, tôi không nhớ thật cụ thể những điều đã nói, và cũng không có dịp xem lại nguyên bản phim như nó đã được chiếu ở nước ngoài; nên không biết cuốn phim có tái hiện trung thành những ý tưởng của tôi hay không.

TK: Xin anh một lời kết cho buổi nói chuyện hôm nay. Đối với những người đã "kết tội" anh, anh nghĩ sao? Và nói rộng ra đến tình trạng chung của các sự ước đoán và quy kết.?

HPNT: Xin cám ơn đài RFI và chị Thụy Khuê đã dành cho tôi một cơ hội để tự bạch trước thính giả mà lâu nay, chắc có không ít người đã căm hận tôi, do tin lầm vào những lời vu khống của người khác. Người đời thường tình, dễ nghe, dễ tin, không nói làm gì; ở đây lại là những người cầm bút, là nhà văn, là nhà báo, họ chưa quen biết tôi, và tôi cũng chưa quen biết họ bao giờ. Sao người ta lại cứ mải say mê trong hành động vu khống kẻ khác như vậy. Sự lên án hoặc buộc tội là quyền chọn cách nhìn cuộc chiến, nhưng sự vu khống lại thuộc về nhân cách của người cầm bút.
Tôi đã nói hết sự thật trong một lần. Xin thưa, từ nay đừng bắt tôi phải chịu trách nhiệm những tội lỗi mà tôi không hề đụng tay tới bao giờ, và mọi sự phán xét xin hãy dành cho những kẻ thích tạo dựng tên tuổi bằng cách lấy nhọ nồi bôi vào trán người khác.

Tôi xin chân thành biết ơn sự quan tâm của quý vị thính giả dành cho câu chuyện có phần nào liên quan tới lương tâm và danh dự của tôi, và xin bạn hữu ở khắp bốn phương trời, hãy giữ trọn vẹn lòng tin vào thằng bạn ngày xưa của mình, rằng Tường vẫn là một con người tính bản thiện.

TK: Xin cám ơn anh Hoàng Phủ Ngọc Tường.

© Copyright Thuy Khue 1997